điều hoà vốn. Do có uy tín đặc biệt trong nền kinh tế, cho nên việc huy động vốn
các NHTM diễn ra có hiệu quả, nhiều chủ thể đã tin tởng và giao cho ngân hàng
tài sản của mình dựa trên quan hệ tín dụng. Các ngân hàng sẽ kinh doanh trên tài
sản này bằng nhiều con đờng: cấp tín dụng, bảo lãnh, cho thuê tài chính. Thậm chí
các NHTM với uy tín của mình còn tận dụng đợc cả những nguồn vốn huy động từ
các tổ chức nớc ngoài. Điều này là một lợi thế mà không phải tổ chức tài chính
nào cũng có thể có.
1.1.4. Các loại TDNH.
Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản tín dụng theo từng nhóm dựa
trên một số tiêu thức nhất định. Việc phân loại tín dụng có cơ sở khoa học là tiền
đề để thiết lập các quy trình cấp tín dụng thích hợp để nâng cao hiệu quả quản trị
rủi ro tín dụng. Phân loại tín dụng dựa trên các tiêu thức sau đây:
* Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn.
- Tín dụng sản xuất (tín dụng cho sản xuất) là hình thức cấp tín dụng mà
ngân hàng lấy đối tợng đợc phục vụ trong quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh
của khách hàng làm cơ sở cấp tín dụng. Đây là loại hình tín dụng khá phổ biến vì
các doanh nghiệp chủ yếu là hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá
nhân và hộ gia đình. Nguồn để trả nợ không phải trực tiếp từ hiệu quả sử dụng vốn
vay.
- Tín dụng đầu t: là loại hình tín dụng đáp ứng nhu cầu cho lĩnh vực xây dựng
cơ bản, cơ sở vật chất,cơ sở hạ tầng, ngoài ra còn có trờng hợp chuyển nhợng các
khoản vốn góp, chuyển nhợng quyền sở hữu.
- Tín dụng xuất nhập khẩu: là loại hình tín dụng đáp ứng nhu cầu của những
doanh nghiệp xuất nhập khẩu, phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, kỹ
thuật trong cho vay không có gì khác so với các loại hình khác mà chỉ khác về đối
tợng và biện pháp quản lý.
5
*Căn cứ vào đối tợng cấp tín dụng:
- Tín dụng vốn cố định: là loại hình tín dụng mà chi phí cho việc đầu t gắn
liền với tài sản cố định. Cấp tín dụng diễn ra trên cơ sở xác định đợc tài sản đó rồi
mới đầu t.
- Tín dụng vốn lu động: là loại hình tín dụng ngắn hạn (< 12 tháng), đáp ứng
nhu cầu về tài sản lu động cho các đơn vị sản xuất kinh doanh.
* Căn cứ vào thời hạn cho vay:
- Tín dụng ngắn hạn: là loại hình tín dụng có thời hạn đợc xác định từ một
năm trở xuống, đợc thực hiện chủ yếu dới hình thức bằng tiền (chiết khấu, thấu
chi, ứng trớc).
- Tín dụng trung hạn: là hình thức cấp tín dụng từ 1đến 5 năm. Vốn mà ngân
hàng đa ra đợc cấu tạo vào tài sản, cho vay trung hạn nhằm khai thác những năng
lực tài sản cố định hiện có và có phần mua sắm tài sản cố định.
- Tín dụng dài hạn: là hình thức cấp tín dụng có thời hạn trên 5 năm.
* Căn cứ vào nguồn gốc tín dụng: Tín dụng đợc chia thành tín dụng trực tiếp
và tín dụng gián tiếp. Trong tín dụng ngắn hạn thì tín dụng gián tiếp chiếm đa
phần.
* Căn cứ vào phơng thức thanh toán: Tín dụng đợc chia thành tín dụng trả
một lần và tín dụng trả góp. Tín dụng trả một lần là loại hình tín dụng mà khách
hàng mang trả số tiền vay của ngân hàng một lần trong thời gian đã thoả thuận,
còn tín dụng trả góp là hình thức mà khách hàng trả phần vốn gốc đã vay của ngân
hàng cho ngân hàng làm nhiều lần.
1.1.5. Vai trò của TDNH.
Trong các tổ chức trung gian tài chính, các ngân hàng thơng mại giữ vị trí
quan trọng nhất cả về quy mô lẫn tính đa dạng trong hoạt động. Điều đó đợc thể
hiện rõ nét ở vai trò vô cùng to lớn của TDNH:
- TDNH là công cụ tài trợ vốn có hiệu quả nhất. Xuất phát từ cơ chế quản lý
tín dụng chặt chẽ, từ khâu thẩm định cho vay đến giám sát, quản lý tín dụng.
6
- TDNH là công cụ của nhà nớc điều tiết khối lợng tiền tệ trong nền kinh tế,
kiểm soát tiền vào lu thông qua kênh tín dụng. TDNH thoả mãn nhu cầu tiết kiệm
và mở rộng đầu t của nền kinh tế. Khi thực hiện hoạt động này, ngân hàng đứng ra
làm cầu nối giữa tiết kiệm và đầu t.
- TDNH là hoạt động chủ yếu mạng lại lợi nhuận cho bản thân các ngân
hàng. Vốn của ngân hàng đợc sử dụng vào hai mục đích:
+ không sinh lời nh: dự trữ, mua sắm tài sản phục vụ tổ chức sản xuất kinh
doanh của mình.
+ sinh lời nh: tín dụng, cho thuê tài chính
Mặt khác ta thấy cho thuê tài chính có mức rủi ro cao và bị giới hạn bởi
nguồn vốn sử dụng, nên nhu cầu đầu t vào nó không lớn. Vậy nên đa số nguồn vốn
của ngân hàng là đầu t cho hoạt động tín dụng.
1.1.6. Hoạt động TDNH.
Hoạt động TDNH là hoạt động kinh doanh tiền tệ và cung ứng các dịch vụ
ngân hàng với nội dungthờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp
tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán khác.
Nh vậy, hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động TDNH nói riêng là hoạt
động tạo lập nguồn vốn để cho vay, chuyển nhợng quyền sở hữu vốn cho các tổ
chức, cá nhân với điều kiện hoàn trả lại một lợng giá trị lớn hơn sau một thời gian
đợc thoả thuận trớc. Hoạt động tín dụng chỉ khác so với các hoạt động tín dụng
khác ở chỗ quan hệ tín dụng đợc diễn ra qua một trung gian là các NHTM.Chính
vì vậy trong hoạt động TDNH có một số điểm khác biệt so với các hoạt động tín
dụng khác. Nó bao gồm các hoạt động chủ yếu sau:
- Hoạt động cho vay (cấp tín dụng)
- Hoạt động huy động vốn
- Chiết khấu thơng phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn.
- Bảo lãnh.
- Cho thuê tài chính.
7
Trong đó hoạt động cho vay và huy động vốn vẫn luôn đóng vai trò chủ đạo.
Tuy nhiên, song hành với hoạt động tín dụng là một tỷ lệ rủi ro tiềm ẩn rất cao.
Chính vì vậy, việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động TDNH là một vấn
đề rất đợc quan tâm.
1.2. Rủi ro trong hoạt động của NHTM.
1.2.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng:
Hoạt động kinh doanh của NHTM trong nền kinh tế thị trờng là một hoạt
động rất nhạy cảm, mọi biến động trong nền kinh tế-xã hội đều nhanh chóng tác
động đến hoạt động của ngân hàng, nó có thể gây xáo chộn bất ngờ và dẫn đến sự
giảm xút trầm trọng về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do vậy
hoạt động kinh doanh của NHTM luôn chứa đựng những rủi ro "tiềm ẩn", nó có
thể xảy ra bất cứ lúc nào. Vậy rủi ro là gì?
Rủi ro là những thiệt hại tiềm tàng ngoài ý muốn của các ngân hàng.
Rủi ro mà các NHTM thờng đề cập đến bao gồm:
-Rủi ro tín dụng: là rủi ro cần đợc đề cập trớc tiên đối với ngân hàng, Ngân
hàng cho vay và đầu t chứng khoán. Khi ngời vay không thể thanh toán đợc vốn và
lãi, những khoản cho vay, đầu t không thể thu hồi này sẽ dần dần ăn mòn hết vốn
của ngân hàng. Bởi vì vốn tự có của ngân hàngthờng thấp hơn 10% các khoản cho
vay và đầu t chứng khoán nên chỉ cần một lợng nhỏ các khoản vay và đầu t không
thể thu hồi đợc thì vốn của ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng nguy hiểm không đủ để
gánh chịu thêm bất kỳ khoản lỗ nào khác.
- Rủi ro lãi suất: là rủi ro làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng do biến động về
lãi suất trên thi trờng. Ngân hàng sẽ phải đơng đầu với rủi ro trong mức chênh lệch
lãi suất, đó là do sự không cân xứng về thông tin.
- Rủi ro hối đoái: là những khoản thiệt hại mà các ngân hàng phải gánh chịu
do sự thay đổi về tỷ giá hối đoái. Các ngân hàng thờng phải đối mặt với rủi ro về
hối đoái trong các giao dịch ngoại tệ. Những đồng tiền đợc giao dịch nhiều nhất
luôn thay đổi theo điều kiện, tình hình trên thị trờng. Ngân hàng kinh doanh trên
8
cơ sở đồng tiền này cho mình và cho khách hàng luôn phải đối mặt với các rủi ro
về thay đổi bất lợi trong tỷ giá.
- Rủi ro thanh khoản: là rủi ro xảy ra khi nguồn vốn (bằng tiền) của Ngân
hàng bị thiếu hụt nghiêm trọng không đủ đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả và
Ngân hàng rất khó khăn trong việc tìm kiếm hay huy động nguồn vốn bù đắp với
chi phí hợp lý. Nếu ngân hàng không thể tăng nguồn vốn kịp thời, sẽ có thể mất
nhiều khách hàng và dẫn tới sự giảm sút về lợi nhuận. Khi không giải quyết kịp
thời tình trạng thiếu hụt tiền dẫn đến việc ngời gửi tiền không ngừng rút vốn và
cuối cùng là ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn có thể sụp đổ.
(theoTài liệu hớng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ tín dụng của NHNo&PTNT
trang 130,131,144)
- Tuy nhiên trong đó có thể nói rủi ro tín dụng là rủi ro lớn nhất và phức tạp
nhất. Đó là rủi ro về sự tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ ng-
ời đi vay không thực hiện đợc nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo hợp đồng cam kết
hoặc mất đi khả năng thanh toán, hoặc do từ phía ngân hàng không tuân thủ đúng
các bớc trong quy trình cấp tín dụng.(theo giáo trình Tín dụng ngân hàng).
Rủi ro tín dụng có thể là rủi ro đọng vốn hoặc rủi ro mất vốn. Chính vì thế
mà đây đợc coi là loại rủi ro nguy hiểm nhất đối với hoạt động kinh doanh của các
NHTM. Tuy nhiên trên thực tế thì không có một tổ chức tín dụng nào lại không
gặp phải rủi ro này, có điều mức độ thiệt hại nh thế nào, và các ngân hàng có biện
pháp gì để khả năng xảy ra rủi ro là thấp nhất.
1.2.2. Các nguyên nhân dẫn đến RRTD:
a/ Nguyên nhân khách quan.
* Cơ chế chính trị, pháp luật:
- Sự bất ổn về chính trị là một nguyên nhân cực kỳ quan trọng dẫn đến rủi ro
tín dụng. Tuy nhiên nền chính trị Việt Nam tơng đối ổn định, mặt khác hoạt động
dới sự giám sát của nhà nớc, nhiều khoản cấp tín dụng đợc nhà nớc can thiệp, điều
đó tạo điều kiện hạn chế bớt rủi ro cho hoạt động tín dụng của các NHTM Việt
Nam.
9
- Sự ảnh hởng của pháp luật đối với hoạt động tín dụng của các NHTM thể
hiện ở các luật, văn bản luật, các thông t hớng dẫn việc thực thi luật, sự tuân thủ
của các chủ thể kinh doanh. ở nớc ta việc có một số bộ luật còn trồng chéo, không
nhất quán, hay thay đổi làm cho các chủ thể trong nền kinh tế có phần khó khăn,
có thể gặp rủi ro.
* Tác động từ nền kinh tế.
- Chu kỳ kinh tế: khi chu kỳ kinh tế diễn ra đều đặn ở một mức nhất định sẽ
giúp ngân hàng hoạt động ổn định, tỷ lệ rủi ro thấp. Khi chu kỳ kinh tế ở mức quá
cao hay quá thấp thì sẽ làm cho hoạt động của ngân hàng gặp khó khăn.Đặc biệt
nếu chu kỳ kinh tế không ổn định, đột ngột tăng hoặc đột ngột giảm sẽ làm cho
các NHTM gặp rủi ro cao trong hoạt động kinh doanh cuả mình.
- Lãi suất của ngân hàng: khi lãi suất của thị trờng tăng làm cho gia trị của d
nợ và nguồn đều giảm và ngợc lại, lãi suất thị trờng giảm làm cho d nợ và nguồn
đều tăng. Đối với một ngân hàng có cơ cấu d nợ và các khoản vay dài hạn có tài
sản thế chấp với lãi suất cố định trong khi vốn huy động lại có kỳ hạn ngắn thì
ngân hàng có thể bị tổn thất nặng nề về tài sản khi lãi suất thị trờng tăng lên.
- Tỷ giá hối đoái: Ngày nay những ngân hàng lớn phải đối mặt với rủi ro hối
đoái trong các giao dịch ngoại tệ, những đồng tiền đợc giao dịch nhiều nhất luôn
thay đổi theo điều kiện, tình hình trên thị trờng. Ngân hàng kinh doanh trên cơ sở
những đồng tiền này phải đối mặt với các rủi ro về sự thay đổi bất lợi trong tỷ giá.
- Tỷ lệ lạm phát: Nền kinh tế luôn có một tỷ lệ lạm phát nhất định, điêu đó sẽ
là động lực cho nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên nếu tỷ lệ lạm phát tăng quá cao
hoặc giảm quá thấp đều làm cho giá trị tiền tệ bị ảnh hởng, chắc chắn sẽ tác động
mạnh đến hoạt động của ngân hàng.
- Nguyên nhân xã hội: do nối sống, sở thích tiêu dùng, tâm lý sống, phong
tục tập quán, tháp dân số tất cả đều tác động đến hoạt động kinh doanh của các
ngân hàng. Nếu không tìm hiểu kỹ tất cả những đặc điểm này, thì ngân hàng cũng
dễ bị thất bại trong kinh doanh.
- yếu tố công nghệ: Đây là một yếu tố cũng rất quan trọng đối với hiệu quả
hoạt động kinh doanh cuat mỗi ngân hàng. Nếu công nghệ cao thì nó sẽ góp phần
10
nâng cao hiệu quả làm việc. Ngợc lại nếu ở một đơn vị nào công nghệ còn lạc hậu
thì có thể bị hạn chế về việc tiếp cận khách hàng, phân tích đánh giá khách hàng,
kiểm tra giám sát tín dụng sẽ thiếu chính xác.
b/Nguyên nhân chủ quan: nguyên nhân chủ quan có thể xuất phát từ phía
khách hàng, và cũng có thể từ phía ngân hàng.
* Từ khách hàng.
- Khách hàng là cá nhân: Rủi ro có thể là do đạo đức của khách hạng (lừa
đảo sau khi vay), có thể do trình độ kém dẫn đến hoạch định chính sách không
hợp lý, chính xác, hay do những rủi ro xảy đến với con ngời (bệnh tật, tai nạn ).
Nếu khách hàng là doanh nghiệp thì có thể là rủi ro tài chính, có thể là rủi ro hoạt
động. Chu kỳ sản xuất của doanh nghiệp không thuận lợi để trả nợ đúng hạn, hoặc
doanh nghiệp bị rủi ro trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình.Tất cả những
lí do này đều có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng.
* Từ phía ngân hàng: Thờng thì khi nhắc đến rủi ro tín dụng, ngời ta thờng chỉ nghĩ đến
đó là do khách hàng không chấp hành đúng những thoả thuận với ngân hàng, nhng trên thực
tế thì rủi ro lại có thể xảy ra do chính các ngân hàng nh: chính sách tín dụng không phù hợp
với môi trờng, không phù hợp với điều kiện và khả năng của mình. Hoặc do không chấp hành
đúng quy trình cấp tín dụng. Một nguyên nhân nữa cũng có thể xảy ra là từ phía các cán bộ
ngân hàng: do trình độ kém hoặc cố tình làm sai chế độ Điều này một lần nữa nhắc nhở các
ngân hàng phải luôn tìm ra những giải pháp tốt nhất cho hoạt động kinh doanh của mình.
** Nguyên nhân bất khả kháng: Đây là một nguyên nhân không lờng trớc đ-
ợc, nó xảy ra ngoài dự đoán của con ngời, nh thiên tai, địch hoạ, dịch bệnh ở
Việt Nam chúng ta là một điển hình về thiên tai nh bão lụt, hạn hán. Và một nét
rất đặc trng của Việt Nam là vấn đề địch hoạ, chúng đã tàn phá nền kinh tế rất
nặng nề,mà kinh doanh ngân hàng là một hoạt động rất nhạy cảm, nó đã bị ảnh h-
ởng rất nhiều, thậm chí có lúc còn bị khủng hoảng. Gần đây hai dịch bệnh lớn đã
cớp đi rất nhiều tiền của của chúng ta. Có thể ngân hàng phải gia hạn nợ cho
khách hàng hoặc phải xoá nợ cho một số khách hàng không còn khả năng trả nợ,
sau đó rất có thể sẽ tiếp tục đầu t cho họ nữa. Nh vậy, ngân hàng đã gián tiếp phải
gánh chịu những rủi ro do thiên tai gây ra.
11
1.2.3. Hậu quả của rủi ro tín dụng.
Nh ta đã biết ngân hàng chiếm vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế, chỉ cần
một biến động nhỏ trong nền kinh tế cũng ảnh hởng tới hoạt động của các ngân
hàng, và ngợc lại khi các ngân hàng có vấn đề nhỏ sẽ ngay lập tức tác động đến
các chủ thể khác trong nền kinh tế, nh vụ việc của ngân hàng á châu chẳng hạn,
chỉ vì một thông tin thất thiệt nào đó mà làm cho ngân hàng chút nữa thì mất khả
năng thanh toán, còn ngời dân thì bất an khi có quan hệ với ngân hàng và đồng
loạt đến rút tiền. Đặc biệt với vai trò quyết định sự sống còn của các NHTM, nếu
TDNH gặp rủi ro thì nó sẽ để lại hậu quả khôn lờng.
* Đối với bản thân ngân hàng:
- Trớc tiên đó là thu nhập và lợi nhuận của ngân hàng sẽ bị giảm sút, thậm trí
thua lỗ. Sau đến là vấn đề uy tín, khi một ngân hàng hoạt động không có hiệu quả,
uy tín sẽ bị suy giảm trầm trọng, khách hàng ồ ạt đến rút tiền, hoặc không đầu t
tiếp nữa. Ngân hàng sẽ không có nguồn để kinh doanh, hoặc thiếu nguồn làm cho
hoạt động bị gián đoạn, có khi còn bị ngừng lại dẫn đến thua lỗ, thu nhập của nhân
viên bị giảm sút, họ sẽ không có đủ điều kiện công tác tốt, không thể cống hiến
hết mình cho cơ quan đợc, đây lại càng là nguyên nhân làm cho hoạt động của
ngân hàng đi hết khó khăn này đến khó khăn khác. Nếu không có một quyết định
bình tĩnh, đúng đắn sẽ làm cho ngân hàng rất dễ đi vào thế bế tắc.
* Đối với nền kinh tế:
Có nhà kinh tế đã từng nói nếu nền kinh tế là một cơ thể sống thì hệ thống
ngân hàng đợc coi là mạch máu. Khi rủi ro tín dụng xảy ra nó không chỉ thiệt hại
cho bản thân, mà còn để lại hậu quả vô cùng to lớn đối với nền kinh tế. Có thể chu
kỳ kinh tế sẽ bị biến đổi, lạm phát gia tăng, hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình
trệ do không có đủ nguồn vốn, hoặc nữa là có thể do không tin tởng vào ngân hàng
mà ngời dân giữ tiền trong nhà mà bị mất cắp, hay dùng vào những mục đích
không hợp pháp Ngoài ra do thu nhập của chính những cán bộ ngân hàng bị
giảm nên nhu cầu tiêu dùng cũng giảm theo làm cho hàng hoá một phần bị ứ đọng
chẳng hạn.
12
Trên đây chỉ là điển hình một số thiệt hại do rủi ro tín dụng gây ra, còn muôn
vàn những vấn đề mà chúng ta không thể liệt kê hết đợc, nh ảnh hởng đến sự an
nguy của nền chính trị xã hội, nền giáo dục, y tế quốc phòng Có những thiệt hại
chúng ta có thể cân đo đợc, nhng cũng có những thiệt hại mà chúng ta không thể
đong đếm đợc. Nhng chúng ta có thể khẳng định rằng hậu quả của rủi ro tín dụng
là vô cùng nguy hiểm. Vậy nên các NHTM, các chủ thể của nền kinh tế, tất cả hãy
nâng cao tinh thần trách nhiệm, chấp hành đúng các quy định của pháp luật để hạn
chế tối đa nhất những rủi ro nói chung và rủi ro tín dụng nói riêng.
1.2.4. Các dấu hiệu nhận biết RRTD:
* Dấu hiệu nhận biết khoản vay có vấn đề:
- Ngời vay không thanh toán khoản vay đúng hạn.
- Kỳ hạn của khoản vay thay đổi liên tục (chuyển gia hạn kỳ hạn cho vay
ngắn hạn sang cho vay trung hạn).
Yêu cầu gia hạn nợ kém hiệu quả (không trả nợ các kỳ hạn).
- Sự tích tụ bất thờng các khoản phải thu (hàng đa đi không thu đợc tiền tồn
kho cao)
- Thất lạc các tài liệu (khách hàng báo cáo thất lạc các tài liệu).
- Tài sản thế chấp không đủ tiêu chuẩn.
- Không có báo cáo hay dự kiến về dòng tiền (thu nhập).
- Khách hàng trông chờ đánh giá lại tài sản để có vốn lớn hơn.
- Trông chờ của khách hàng vào những nguồn vốn bất thờng để trả nợ.
13
* Dấu hiệu nhận biết chính sách cho vay kém hiệu quả:
- Sự đánh giá không chính xác về rủi ro của khách hang.
- Cho vay dựa trên sự thay đồi bất thờng xảy ra trong tơng lai (ví dụ sự sắp
xếp lại doanh nghiệp).
- Cho vay khách hàng hứa duy trì khoản tiền gửi lớn trong tơng lai.
- Không xác định rõ kế hoạch hoàn trả đối với từng khoàn vay.
- Cung cấp tín dung lớn cho khách hàng không thuộc khu vực thị trờng của
mình.
- Hồ sơ tín dụng không đầy đủ.
- Có khuynh hớng cạnh tranh thái quá.
- Cho vay tài trợ các hoạt động đầu cơ.
- Thiếu nhạy cảm đối với môi trờng kinh tế thay đổi.
Trên đây chỉ là một số dấu hiệu cơ bản để nhận biết một khoản vay có vấn
đề. Ngoài ra còn có muôn vàn những dấu hiệu khác nữa, có nhận biết đợc hay
không, điều đó phụ thuộc vào sự nhạy bén của mỗi ngân hàng, của mỗi nhân viên
ngân hàng.
1.2.5. Các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động
TDNH.
Thực tế đã chứng minh, hoạt động TDNH là một hoạt động mang tính rủi ro
rất cao. Nó có thể là rủi ro trong lĩnh vực huy động vốn hay cũng có thể từ hoạt
động cho vay, hay bất cứ một hoạt động nào.Tuy nhiên không phải vì thế mà các
ngân hàng thu hẹp hay bỏ nó, bởi nó là sự sống của bất cứ tổ chức tín dụng nào.
Vậy họ đã, đang và sẽ làm gì, làm nh thế nào để hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất.
a/ Xây dựng chính sách tín dụng.
- Mỗi ngân hàng đều phải xác định cho mình một chính sách tín dụng hợp lý,
phù hợp với môi trờng kinh doanh, với khả năng của mình. Thực tế các khoản vay
là loại tài sản lớn nhất của các ngân hàng. Vì vậy sự lành mạnh của danh mục cho
vay quyết định thu nhập của ngân hàng.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét