Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014

Phân tích cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta mà đại hội Đảng IX đã nêu và ích lợi của việc sử dụng nó vào việc phát triển KT-XH ở trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam

cách toàn diện mặt tiêu cực của nó ,là kết quả tập trung là cuộc cách mạng
KTXH sâu sắc vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 5 của đảng cộng sản Việt Nam đã đánh
giá tình hình đất nớc từ những năm 1975-1980 là thời kỳ nền kinh tế ở trạng
thái trì trệ, trên mặt trận kinh tế , đất nớc ta đứng trớc nhiều vấn đề gay gắt ,
kết quả thực hiện khoa học kỹ thuật 5 năm (1976-1980) cha thu hẹp đợc
những mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế quốc dân. Sản xuất phát
triển chận trong khi dân số tăng nhanh, thu thập quốc dân cha bảo đảm đợc
tiêu dùng xã hội, một phần tiêu dùng XH dựa vào vay và viện trợ, nền kinh tế
cha tạo đợc tích luỹ lơng thực , vai trò của các hàng tiêu dùng thiết yếu còn
thiếu , tình hình cung ứng vật t,giao thông vận tải rất căng thẳng ,chênh lệch
lớn giữa thu và tri tài chính, giữa hàng và tiền , giữa xuất khẩu và nhập
khẩu.Thị trờng và vật giá không ổn định, số ngời lao động cha đợc sử dụng
còn đông, đời sống nhân dân còn rất nhiều khó khăn.
Chính những khó khăn của đất nớc buộc Đảng ta phải suy nghĩ phân
tích, tình hình và nguyên nhân , tìm tòi các giải pháp , từ đó đổi mới các cơ
sở điạ phơng, đề ra những chính sách cụ thể, có tính chất đổi mới từng phần
nh: Khẳng định sự cần thiết của nền kinh tế nhiều thành phần ở miền Nam
trong một thời gian nhất định, cải cách một phần mô hình hợp tác xã qua chỉ
thị khoán sản phẩm đến nhóm và ngời lao động trong hợp tác xã cải tiến công
tác khoa học hoá và hạch toán kinh tế ở các xí nghiệp quốc doanh nhằm phát
huy quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của
doanh nghiệp
Tóm lại, đã có những quan niệm chủ trơng ban đầu đổi mới mô hình
hình kinh tế cũ theo t tởng: Làm cho sản xuất bung ra nghĩa là đổi mới
hình thức quan hệ sản xuất để giải phóng lực lợng sản xuất và phát triển lực l-
ợng sản xuất.
Điều đáng ghi nhận nhất là ở thời kỳ này là t tởng mới từng bớc đợc
hình thành và phát triển. Biểu hiện chủ yếu ở nghị quyết hội nghị lần thứ 6
của ban chấp hành trung ơng khoá IV. Đến đây mô hình quan niệm cốt lõi
của nền kinh tế mới về cơ bản đã đợc hình thành . Sự phát triển tiên tiên này
đã dẫn đến những bớc nhảy vọt trong đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6 về
mô hình kinh tế mới.
Đó là thời kỳ đổi mới toàn diện nền kinh tế thông qua những nghị
quyết của đại biểu toàn quốc lần thứ 6,7,8 . Mô hình từ cũ bị xoá bỏ , mô
hình kinh tế mới đợc xây dựng phù hợp với quy luật kinh tế khách quan và
trình độ phát triển của nền kinh tế .
Thời kỳ này đã diễn ra sự biến đổi trong mô hình kinh tế , từ mô hình
gián tiếp tiến lên XHCN . Thực hiện mô hình kinh tế nhằm mục tiêu căn
bản , cấp thiết là giải pháp tăng nhanh lực lợng sản xuất , từng bớc cải thiện
đời sống nhân dân, tạo cơ sở vật chất và xã hội cho XHH từng bớc nền
SXHH.
Từ những phơng hớng chủ yếu của cuộc đổi mới đã đợc đại hội VI của
Đảng đề ra đến chủ trơng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
vận hành theo cơ chế thị trồng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng
XHCN . Đợc đại hội VI quyết định và dợc đại hội Đảng IX phát triển theo
chủ trơng xây dựng và phát triển nền kinh tế chính trị định hớng XHCN là
những bớc tiến quan trọng trong quá trình tổng kết thực tiễn cách mạng ,đổi
mới t duy kinh tế, vợt qua những quan niệm sơ cứng về mô hình phát triển
KT-XH và con đờng đi lên CNXH.
Trong đờng lối chiến lợc của Đảng ta, t tởng đại đoàn kết toàn dân và
phát huy dân chủ đợc thể hiện rất rõ ràng. Đại hội IX xác định phát huy sức
mạnh của cả cộng đồng dân tộc, tinh thần yêu nớc , tự lực tự cờng tự hào dân
tộc, mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất dân giàu nớc mạnh, xã hội công
bằng dân chủ văn minh và tôn trọng những khác nhau không trái với lợi ích
chung của dân tộc,xoá bỏ mặc cảm định kiến,phân biệt đối xử về vị thế giai
cấp, thành phần xây dựng tình hình cởi mở, tin cậy về nhau hớng tới tơng
lai.
Phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN, mục tiêu đến năm
2010, hình thành về cơ bản và tiến hành thông suốt theo cơ chế thị trờng, là
chính sách nhất quán, lâu dài nhằm thực hiện đại đoàn kết toàn dân và phát
huy dân chủ trong đời sống kinh tế.
Đại hội Đảng IX của Đảng đã nhấn mạnh : Động lực chủ yếu để phát
triển đất nớc là đại đoàn kết toàn dân, phát triển kinh tế cũng là phát huy
khả năng của mọi ngời dân, mọi thành phần kinh tế đều là bộ bộ phận cấu
thành quan trọng của nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN trên đất nớc
ta. Chính sách này thể hiện một nhận thức mới, phù hợp với thực tế là mặc
dầu có nhiều hình thc sở hữu về t liệu sản xuất , nhiều thành phần kinh tế, có
nhiều giai cấp và tầng lớp xã hội, nhng mối quan hệ giữa các giai cấp, các
tầng lớp xã hội là hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộn nhân dân, đoàn kết
và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc dới sự lãnh đạo
của Đảng . Thực tế vừa qua rằng, chúng ta đã bớc đầu phát huy đợc sức
mạnh của sự thống nhất trong tính đa dạng của nền kinh tế, nhiều thành phần
kinh tế thực sự đã là cơ sở tốt cho đại đoàn kết toàn dân.
Đại hội Đảng IX tiếp tục khẳng định, trong nền kinh tế nhiều thành
phần, kinh tế nhà nớc vẫn giữ vai trò chủ đạo,bảo đảm cho toàn bộ nền kinh
tế quốc dân phát triển ổn định và bền vững theo định hớng XHCN. Dẫu rằng
kinh tế nhà nớc đang còn một số mặt yếu kém nhng trên thực tế, đã nắm
những cân đối lớn của nền kinh tế và đang giữ vai trò chủ đạo .Trong mấy
năm tới chúng ta tiếp tục đẩy nhanh quá trình đổi mới để nâng cao hiệu quả
hoạt động của các doanh nghiệp nhà nớc, trên cơ sở đó kinh tế nhà nớc làm
tốt hơn vai trò chủ đạo của mình. Hội nghị lần thứ III của ban chấp hành
trung ơng Đảng ( Khoá IX) .Đã có những quyết định quan trọng về vấn đề
này, yêu cầu các cấp các ngành phải quán triệt và thực hiện nghiêm túc để
tạo ra một bớc chuyển biến cơ bản trong những năm tới.
Kinh tế nhà nớc nắm giữ vai trò chủ đạo chính là để phát huy khả năng
của kinh tế nhà nớc và phát huy khả năng các thành phần kinh tế khác. Đảng
và nhà nớc ta đã xác định rõ: Mọi tổ chức kinh doanh theo các hình thức sở
hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều đợc khuyến khích phát triển lâu
dàI, hợp tác, cạnh tranh, bình đẳng , xin đợc nhấn mạnh thêm bình đẳng là
bình đẳng trớc pháp luật , đờng lối của Đảng phải đợc thể chế hoá thành
pháp luật các cơ quan nhà nớc và mọi ngời dân mọi doanh nghiệp , thuộc mọi
thành phần kinh tế đều phải nghiêm chỉnh chấp hành ,với ý nghĩa đó thành
phần kinh tế nhà nớc là hạt nhân của quan hệ .Sản xuất mới là một lực lợng
kinh tế ,là một công cụ có sức mạnh vật chất để nhà nớc Việt Nam thực hiện
vai trò đIều tiết , hớng dẫn nền kinh tế nhiều thành phần phát triển đúng định
hớng XHCN.
Sau hơn mời năm đổi mới, cùng với việc phát triển các lĩnh vực khác ,
việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã đi vào thực tiễn góp
phần quan trọng vào những thành tựu kinh tế trong bối cảnh tình hình quốc tế
không thuận lợi và tình hình trong nớc còn nhiều khó khăn, thực tiễn đã nhắc
nhở chúng ta thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thầnh phần , coi
đó là con đờng tất yếu quá độ lên XHCN, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN.
II.Vấn đề sử dụng các thành phần kinh tế ở n ớc ta :
2.1.Sự cần thiết phải sử dụng các thành phần kinh tế ở nớc ta :
Trong thời kỳ quá độ lên XHCN ở Việt Nam , sự tồn tại của sản xuất
hàng hoá là một tất yếu khách quan, bởi vì nớc ta có lực lợng sản xuất còn rất
thấp, đang tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau, sự phân công lao động
xã hội gắn với nhiều chủ thể sở hữu khác nhau nh các thực thể kinh tế độc lập
. Trong những đIều kiện đó , việc trao đổi sản phẩm giữa các chủ thể sản xuất
với nhau không thể thực hiện theo nguyên tắc nào khác là nguyên tắc trao đổi
ngang giá , tức là trao đổi hàng hoá thông qua thị trờng , sản phẩm phải trở
thành hàng hoá .
ở nớc ta trong thời kỳ quá độ , muốn phát triển mạnh mẽ lực lợng sản
xuất thì phải xã hội hoá và chuyên môn hoá lao động. Quá trình ấy chỉ có thể
diễn ra một cách thuận lợi trong nền kinh tế hàng hoá . Sản xuất càng xã hội
hoá, chuyên môn hoá , thì càng đòi hỏi phát triển sự hiệp tác và trao đổi hoạt
động trong xã hội, càng phải thông qua sự trao đổi hàng hoá giữa các đơn vị
sản xuất để đảm bảo những nhu cầu cần thiết của các loại hoạt động sản xuất
khác nhau. Chỉ có đẩy mạnh sản xuất hàng hoá mới làm cho nền kinh tế nớc
ta phát triển năng động. Kinh tế tự nhiên , do bản chất của nó chỉ duy trì tái
sản xuất giản đơn. Trong cơ chế kinh tế cũ , vì coi thờng quy luật kinh tế giá
trị nên các cơ sở kinh tế cũng thiếu sức sống và động lực để phát triển sản
xuất . Sử dụng sản xuất hàng hoá là sử dụng quy luật giá trị , quy luật này
buộc mỗi ngời sản xuất phải tự chịu trách nhiệm về hàng hoá do mình làm
ra . Chính vì thế mà nền kinh tế trở nên sống động . Mỗi ngừời sản xuất đều
chịu sức ép buộc phải quan tâm tới sự tiêu thụ trên thị trờng sao cho sản
phẩm của mình đợc xã hội thừa nhận và cũng từ đó họ mới có đợc thu nhập.
Phát triển sản xuất hàng hoá là sự phát triển của lực lợng sản xuất xã
hội , cũng có nghĩa là sản phẩm xã hội ngày càng phong phú, đáp ứng nhu
cầu đa dạng của mọi ngời. Ơ nông thôn nớc ta , sự phát triển kinh tế hàng
hoá và việc tăng tỷ lệ hàng hoá nông sản đã làm cho hàng hoá bán ra của
nông dân nhiều lên, thu nhập tăng lên, đồng thời các ngành nghề của nông
thôn cũng ngày một phát triển , tạo cho nông dân nhiều việc làm . Đó cũng là
đIều đã diễn ra ở thành phố, đối với những ngời lao động thành thị.
Phát triển hàng hoá có thể đào tạo ngày càng nhiều cán bộ quản lý và
lao động. Muốn thu đợc lợi nhuận , họ cần phải vận dụng nhiều biện pháp để
quản lý kinh tế, thúc đẩy tiến bộ KT hạ giá thành sản phẩm làm cho sản xuất
phù hợp với nhu cầu của thị trờng , nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh tế . Qua
các cuộc cạnh tranh trên thị trờng những nhân tài quản lý kinh tế và lao động
thành thạo xuất hiện ngày càng nhiều và đó là một dấu hiệu quan trong của
tiến bộ KT.
Nh vậy phát triển sản xuất hàng hoá đối với nớc ta là một tất yếu
khách quan, một nhiệm vụ cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu sang nền
kinh tế hiện đại, hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế. Đó là con đờng
đúng đắn để phát triển lực lợng sản xuất , khai thác có hiệu quả tiềm năng
của đất nớc để thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hoá , hiện đại hoá. Kinh tế
hàng hoá không đối lập với các nhiệm vụ kinh tế xã hội của thời kỳ quá độ
tiến lên XHCN mà trái lại thúc đẩy các nhiệm vụ đó phát triển mạnh mẽ hơn.
Thực tiễn của những năm đổi mới chỉ ra rằng , việc chuyển sang mô
hình kinh tế hàng hoá là hoàn toàn đúng đắn nhờ mô hình kinh tế đó , chúng
ta đã bớc đầu khai thác đợc tiềm năng trong nớc đi đôi với thu hút vốn và kỹ
thuật nớc ngoài giải phóng đợc năng lực sản xuất trong xã hội, phát triển lực
lợng sản xuất , gop phần quyết định đảm bảo nhip độ tăng trởng GDP, bình
quân hàng năm trong những năm 1991-1995 là 8,3% vợt mức đề ra là 5,5-
6%.
2.2 Bản chất và cơ cấu các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ :
2.2.1 Bản chất của các thành phần kinh tế:
Bớc vào thời kỳ quá độ lên CNXH, trong nền kinh tế của mỗi nớc , số
lợng của các thành phần kinh tế và tỷ trọng kinh tế có thể khác nhau tuỳ theo
đặc đIúm cụ thể của từng nớc và trong mỗi nớc lại tuỳ từng giai đoạn , hiện
nay, nền kinh tế nớc ta có các thành phần sau đây:
a) Kinh tế nhà nớc : là thành phần kinh tế bao gồm các doanh nghiệp
nhà nớc các xí nghiệp quốc gia và tài sản thuộc quyền sở hữu nhà
nớc nh đất đai, hầm mỏ, rừng, biển ngân sách , các quỹ dự trữ ngân
hàng nhà nớc
Kinh tế nhà nớc rộng và mạnh hơn doanh nghiệp nhà nớc
phân biệt đợc hai phạm trù này nhận thức đầy đủ vai trò kinh tế nhà
nớc là một bớc phát triển về nhận thức thực tiễn nền kinh tế nớc ta
trong quá trình đổi mới .
b). Kinh tế tập thể: là hình thức liên kết của những ngời lao động nhằm
kết hợp sức mạnh của từng thành viên với sức mạnh tập thể để giải
quyết có hiệu quả hơn những vấn đề của sản xuất , kinh doanh và
đời sống.
Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng từ
thấp đến cao từ tổ nhóm hợp tác đến hợp tác xã theo tắc tự nguyện,
bình đẳng ,cùng có lợi , quản lý dân chủ thực hiện đúng luật hợp tác
xã. Kinh tế tập thể đợc phát triển , rộng rãi và đa dạng trong các
ngành nghề ở nông thôn và thành thị , nó giữ vai trò quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân . Trong quá trình phát triển nền kinh tế
thị trờng định hớng XHCN , kinh tế nhà nớc cùng với kinh tế tập thể
ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân
c).Kinh tế cá thể , tiểu chủ : (Của nông dân , thợ thủ công , ngời làm th-
ơng nghiệp và ngời làm cá thể) bao gồm những đơn vị kinh tế dựa
trên hình thức sở hữu t nhân qui mô nhỏ về t liệu sản xuất và hoạt
động dựa vào sức lao động của từng hộ là chủ yếu. Trong một số
ngành nghề ở nông thôn và thành thị kinh tế cá thể và tiểu chủ có vị
trí quan trọng nó có khả năng tận dụng tiềm năng về vốn, sức lao
động, tay nghề của từng gia đình , từng ngời lao động. Nhng đến
một trình độ nhất định , việc mở rộng sản xuất kinh doanh của kinh
tế cá thể tiểu chủ sẽ bị hạn chế vì thiếu vốn , trình độ công nghệ
thấp và khó tìm thị trờng tiêu thụ , bởi vậy cần đợc sự hỗ trợ của nhà
nớc để khắc phục những hạn chế nói trên.
Các đơn vị kinh tế cá thể tiểu chủ có thể tồn tại độc lập , hoặc
tham gia các loại hình kinh tế tập thể , hay liên doanh liên kết với
các doanh nghiệp nhà nớc dới nhiều hình thức.
d) Kinh tế t bản t nhân:là các đơn vị kinh tế mà vốn do một hoặc một số
nhà t bản góp lại để sản xuất kinh doanh và thuê mớn nhân công.
Kinh tế t bản t nhân có nhiều hình thức là xí nghiệp t doanh hay
công ty trách nhiệm hữu hạn.
Kinh tế t bản t nhân dựa trên sở hữu t nhân t bản chủ nghĩa về t
liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê. Trong đIều kiện quá độ
lên CNXH ở nớc ta, thành phần kinh tế này còn có vai trò đáng kể
xét về phơng diện phát triển lực lợng sản xuất, xã hội hoá sản xuất
cũng nh về phơng diện giải quyết các vấn đề xã hội.
e). Thành phần kinh tế t bản nhà nớc:
Đó là đơn vị kinh tế hình thành do sự liên doanh giữa nhà nớc
xã hội chủ nghĩa với t bản t nhân trong nớc hoặc với t bản t nhân n-
ớc ngoàI, kinh tế t bản nhà nớc ra đời còn do nhà nớc xã hội chủ
nghĩa góp vốn cổ phần hoặc do t nhân ở trong và ngoài nớc thuê tài
sản , kinh tế t bản nhà nớc là cầu nối giữa sản xuất nhỏ với sản xuất
lớn . Đảng ta đã khẳng định kinh tế t bản nhà nớc có vai trò quan
trọng trong việc động viên tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, khả
năng tổ chức quản lý của các nhà t bản , vì lợi ích của bản thân họ
cũng nh công việc xây dựng và phát triển đất nớc .
2.2.2 Mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế :
Các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH có mối quan hệ
và tác động qua lại lẫn nhau , hoạt động đan xen vào nhau trong cơ cấu kinh
tế quốc dân thống nhất . Vai trò của các thành phần kinh tế ,mối quan hệ giữa
các thành phần kinh tế phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lợng sản xuất
, Hiệu quả sản xuất kinh doanh và sự đóng góp của chúng vào sự phát triển
của nền kinh tế . Mỗi thành phần kinh tế dựa trên một hình thức sở hữu nhất
định về t liệu sản xuất. Các hình thức sở hữu về t liệu sản xuất tuy có sự độc
lập tơng đối và cơ bản có bản chất riêng, nhng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh không có sự ngăn cách và có thể hỗn hợp , đan kết với nhau (cùng một
chủ sở hữu có thể tham gia nhiều quan hệ sở hữu, cùng một đối tợng sở hữu
có nhiều quan hệ sở hữu). Hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng trong
nền kinh tế quốc dân thống nhất do nhà nớc hớng dẫn, đIều tiết, kiểm soát
,cùng với việc nhà nớc nắm giữ những vị trí then chốt các chủ thể sản xuất
kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế vừa hợp tác với nhau , bổ sung cho
nhau vừa cạnh tranh với nhau bình đẳng trớc pháp luật. Đại diện cho mỗi
thành phần kinh tế là giai cấp hoặc tầng lớp xã hội nhất định mà tổng hợp
toàn bộ tạo thành cơ cấu xã hội- giai cấp.Trong cơ cấu xã hội giai cấp ấy mỗi
giai cấp mỗi tầng lớp xã hội , các chủ thể sản xuất kinh doanh thuộc các
thành phần kinh tế đều có những lợi ích kinh tế riêng, vừa thống nhất vừa
mâu thuẫn với nhau , hơn nữa nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
động phát triển theo các quy luật kinh tế thị trờng, đồng thời chịu sự đIều tiết
của nhà nớc theo định hớng XHCN.
III. Nền kinh tế n ớc ta hiên nay - Thực trạng và giải pháp quản
lý vĩ mô.
III.1. Những tiến bộ chủ yếu đạt đợc khi chuyển sang nền kinh tế
nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH:
Trong điều kiện xoá bỏ bao cấp , chuyển sang vận dụng cơ chế thị tr-
ờng, nền kinh tế nớc ta còn gặp nhiều khó khăn , song vẫn giữ nhịp độ năm
sau tăng hơn năm trớc . Trong những năm 1986-1990 , tính theo giá cố định
năm 1982 hàng năm tổng sản phẩm xã hội tăng 4,4% , thu nhập quốc dân
tăng 3,2% so với năm 1985 ,các chỉ tiêu tơng ứng của năm 1990 tăng 25%
và 20% . Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng nhanh nhu đIện tăng
gần 60%, xi măng tăng 80%. Một số ngành công nghiệp mới ra đời và phát
triển nhanh nh thăm dò và khai thác dầu khí, lắp giáp đIện tử, đặc biệt trong
nông nghiệp sản lợng lơng thực qui thóc tăng từ 18,2 triệu tấn năm 1985 lên
21,5 triệu tấn năm 1990, tăng gần 18,1%. Lần đầu tiên trong lịch sử , Việt
Nam đã giải quyết về cơ bản vấn đề lơng thực , bảo đảm cân đối nhu cầu tối
thiểu trong nớc và một phần đáng kể để xuất khẩu, trong hai năm 1989-1990
đã xuất khẩu mỗi năm 1,3 triệu tấn. Sản xuất và xuất khẩu đã tăng lên đáng
kể , đã hình thành một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực nh : Thuỷ sản , dầu thô
, gạo Cùng với thị trờng truyền thống Liên Xô (cũ ) và các nớc Đông Âu ,
Việt Nam đã mở rộng quan hệ trao đổi hàng hoá với nhiều nớc khác.
Cơn sốt lạm phát đã thuyên giảm rõ rệt , thành công đáng kể là toàn bộ
cơ chế hai giá đã chuyển sang cơ chế một giá , nhà nớc chỉ qui dịnh giá đối
với rất ít mặt hàng nh đIện , xăng, dầu, xi măng ,sắt , thép, gạo
Sáu tháng đầu năm 1991,tuy thị trờng xuất khẩu truyền thống bị thu
hẹp đột ngột (giảm tới 85% ) song sản xuất công nghiệp vẫn tăng 2% so với
cùng kỳ năm ngoáI, đIều đáng lu ý là công nghiệp do trung ơng trực tiếp
quản lý đã phục hồi dần dần thích nghi với điều kiện kinh doanh mới ,nhờ
vậy mức sản xuất đã tăng 7,4% so với 6 tháng đầu năm 1990 , trong đó bộ
năng lợng tăng 3,2%. Bộ công nghiệp tăng 11,2 %. Bộ xây dựng tăng 11,8 %
sản xuất nông nghiệp : Diện tích gieo trồng cây lơng thực vụ đông xuân năm
1991 trong cả nớc tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trớc trừ miền Bắc do thời
tiết không bình thờng và sai lầm trong chỉ đạo về cơ cấu giống lúa và thời vụ
nên bị thất thu , miền Nam thu hoạch khá , tăng gần 30 vạn tấn qui thóc so
với đông xuân năm 1990.
Nhìn chung từ đầu năm 1991, Việt Nam bớc vào thời kỳ gay gắt nhất
từ trớc đến nay trong khi nền kinh tế vẫn còn khủng hoảng ,nhiều khó khăn
cơ bản và lâu dài cha đợc khắc phục, lại xuất hiện những trở lực mới song sản
xuất không những vẫn trụ đợc mà còn có phần phát triển. Nền kinh tế đang đ-
ợc đổi mới đúng hớng cả về cơ cấu ngành , cơ cấu thành phần kinh tế về sự
kết hợp khai thác tiềm năng ở trong nớc và ở nớc ngoài , sự kết hơp giữa kinh
tế với xã hội , kinh tế với quốc phòng.
3.2 Những tồn tại và những vấn đề lớn đang đặt ra trong nền kinh tế
cần phải giải quyết :

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét