đa ra biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh. Luận văn tốt nghiệp có
3 chơng gồm:
Chơng 1: Một số vấn đề chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp .
Chơng 2: Phân tích thực trạng hiệu quả kinh doanh ở Công ty
Bánh kẹo Hải Hà .
Chơng 3: Một số biện pháp cơ bản nâng cao hiệu quả kinh
doanh ở Công ty Bánh kẹo Hải Hà .
5
Ch ơng 1
Một số vấn đề chung về hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp
I. Khái niệm hiệu quả kinh doanh và sự cần thiết nâng cao
hiệu quả kinh doanh.
1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh:
Kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc thực hiện tất cả các công đoạn của
qúa trình từ đầu t sản xuất đến tiêu thụ hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trờng nhằm
mục đích sinh lời. Các doanh nghiệp quan tâm nhất chính là vấn đề hiệu quả sản
xuất. Sản xuất kinh doanh có hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát
triển. Hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với phạm
trù lợi nhuận, là hiệu số giữa kết quả thu về với chi phí bỏ ra để đạt đợc kết quả đó.
Hiệu quả kinh doanh cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất và
quản lý của mỗi doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, gắn với cơ chế thị trờng, có
quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh nh: lao động,
vốn, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nên doanh nghiệp chỉ có thể đạt hiệu
quả cao khi việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả.
Khi đề cập đến hiệu quả kinh doanh các nhà kinh tế dựa vào từng góc độ xem xét
để đa ra các định nghĩa khác nhau[1,2,3].
Ta có thể rút ra khái niệm về hiệu quả nh sau: Hiệu quả kinh doanh là một
phạm trù kinh tế biểu hiện sự tập trung của phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản
ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí chi phí nguồn lực đó trong
quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh . Hiệu quả kinh doanh
ngày nay càng trở nên quan trọng đối với tăng trởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản
để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
Tuy nhiên, cần hiểu hiệu quả kinh doanh một cách toàn diện trên cả hai mặt:
hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế có mối
quan hệ khăng khít nhng cũng có mâu thuẫn. Vì vậy, vấn đề ở đây là tạo sự thống
nhất giữa lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của toàn xã hội.
6
Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp đạt đợc trong từng thời kỳ, từng giai đoạn,
điều đòi hỏi đặt ra ở đây cho doanh nghiệp là không đợc vì lợi ích trớc mắt mà làm
tổn hại đến lợi ích lâu dài của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp phải đợc đặt trong mối quan hệ mật thiết chung của toàn bộ nền kinh tế
quốc dân. Nh vậy, có thể nói doanh nghiệp là một tế bào, một bộ phận cấu thành
của nền kinh tế.
Lợi ích của toàn xã hội, của doanh nghiệp bao giờ cũng phải phù hợp nhau.
Thực tế cho thấy có những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có lợi cho mình nh-
ng lại không cần thiết cho xã hội, cũng có thể gây tác hại cho xã hội nh ô nhiễm
môi trờng, thất nghiệp, các tệ nạn, Mâu thuẫn này cho thấy sự không trùng hợp
giữa tiêu chuẩn hiệu quả xã hội với hiệu quả của doanh nghiệp.
2. Bản chất của hiệu quả kinh doanh.
Bản chất của hiệu quả kinh doanh chính là hiệu quả của lao động xã hội, nó
phản ánh mặt chất lợng của hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các
yếu tố đầu vào của quá trình kinh doanh để đạt đợc mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
Song nó cũng là thớc đo trình độ tiết kiệm các yếu tố đầu vào, nguồn nhân lực xã
hội. Tiêu chuẩn hoá hiệu quả đặt ra là tối đa hoá kết quả hoặc tối thiểu hoá chi phí
dựa trên nguồn lực sẵn có.
Ngoài ra, chúng ta cần phải phân biệt sự khác nhau và mối quan hệ giữa
hiệu quả kinh doanh và kết quả kinh doanh.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là những gì mà doanh nghiệp đạt đợc
sau một qúa trình kinh doanh nhất định. Trong kinh doanh thì kết quả cần đạt đợc
bao giờ cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp. Kết quả đợc phản ánh bằng
chỉ tiêu định tính nh số lợng sản phẩm tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận, và cũng có
thể phản ánh bằng chỉ tiêu định lợng nh uy tín, chất lợng sản phẩm.
Về hình thức hiệu quả kinh doanh luôn là phạm trù so sánh thể hiện mối tơng
quan giữa kết quả đạt đợc và chi phí bỏ ra. Kết quả chỉ là cái cần thiết để tính toán
và phân tích hiệu quả, muốn đánh giá đợc hiệu quả kinh doanh phải dựa trên các
kết quả đạt đợc của từng lĩnh vực. Vì vậy, hai khái niệm này độc lập và khác nhau
nhng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau.
3. Sự cần thiết và ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.
3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh .
7
Không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện cho sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng mở cửa hội nhập và tất cả
các tổ chức kinh tế đều bình đẳng cạnh tranh để chiếm lĩnh thị phần trên thị trờng.
Tăng khả năng cạnh tranh, đứng vững trong cơ chế thị trờng bắt buộc các doanh
nghiệp phải làm ăn có hiệu quả. Hiệu quả càng cao thì sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp càng lớn. Ngợc lại, nếu doanh nghiệp không ngừng nâng cao hiệu
quả kinh doanh, làm ăn không có lãi thì doanh nghiệp chắc chắn doanh nghiệp đó
sẽ bị chính thị trờng đào thải.
Hơn nữa, nâng cao hiệu quả kinh doanh là yêu cầu thiết yếu của quy luật tiết
kiệm. Việc tiết kiệm và hiệu quả kinh doanh có mối quan hệ mật thiết với nhau, đó
là hai mặt của vấn đề. Ngợc lại, việc tiết kiệm càng lớn thì hiệu quả kinh doanh
càng cao. Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải thực hiện quy luật đó.
Nói tóm lại, đánh giá và phân tích hiệu quả đợc coi là một trong những công
cụ để các nhà quản trị thực hiện chức năng của mình. Việc xem xét và tính toán
hiệu quả sản xuất kinh doanh không những cho biết việc sản xuất đạt đợc ở trình
độ nào, mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích và đa ra các biện pháp thích
hợp trên cả hai phơng diện tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh nhằm nâng
cao hiệu quả kinh doanh.
3.2. ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Đối với nền kinh tế quốc dân: Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế
quan trọng, phản ánh yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, phản ánh trình độ
sử dụng các nguồn lực, trình độ sản xuất và mức độ hoàn thiện của quan hệ sản
xuất trong cơ chế thị trờng. Trình độ phát triển của lực lợng sản xuất ngày càng
cao, quan hệ sản xuất càng hoàn thiện, càng nâng cao hiệu quả. Càng nâng cao
hiệu quả thì càng hoàn thiện quan hệ sản xuất và trình độ hoàn thiện của quan hệ
sản xuất càng cao yêu cầu của quy luật kinh tế ngày càng thoả mãn và điều kiện
quản lý kinh tế cơ bản ngày càng đợc phát huy đầy đủ hơn vai trò và tác dụng của
nó. Tóm lại, càng nâng cao hiệu quả kinh doanh đem lại cho quốc gia sự phân bố,
sử dụng các nguồn lực càng hợp lý và ngợc lại sử dụng các nguồn lực càng hợp lý
thì càng hiệu quả.
Đối với bản thân doanh nghiệp: Hiệu quả kinh doanh xét về mặt tuyệt đối
chính là lợi nhuận thu đợc. Nó là cơ sở để tái sản xuất mở rộng, cải thiện đời sống
cán bộ công nhân viên. Đối với mỗi doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp
8
hoạt động trong cơ chế thị trờng thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đóng vai
trò quan trọng trong sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp. Nó giúp cho doanh
nghiệp bảo toàn và phát triển về vốn, qua đó doanh nghiệp tăng khả năng cạnh
tranh của mình trên thị trờng, vừa giải quyết tốt đời sống ngời lao động, vừa đầu t
mở rộng, cải tạo, hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc sản xuất
kinh doanh. Do vậy, hiệu quả chính là căn cứ quan trọng và chính xác để doanh
nghiệp đánh giá các hoạt động của mình. Nhận thức đúng đắn về hiệu quả sẽ giúp
cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn.
Đối với ngời lao động: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là động lực thúc đẩy,
kích thích ngời lao động hăng say sản xuất, luôn quan tâm tới kết quả lao động
của mình. Nâng cao hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với việc nâng cao đời sống
ngời lao động trong doanh nghiệp. Nâng cao đời sống sẽ tạo động lực trong sản
xuất, làm tăng năng suất lao động, tăng năng suất lao động sẽ góp phần nâng cao
hiệu quả kinh doanh.
II. Các nhân tố ảnh hởng đến hiệu quả kinh doanh :
Hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp là một chỉ tiêu chất lợng tổng
hợp, nó liên quan tới các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó nó chịu tác
động của nhiều nhân tố khác nhau. Trong đó, chỉ tiêu về doanh số bán hàng và
tổng chi phí ảnh hởng mạnh và trực tiếp tới hiệu quả kinh doanh. Các nhân tố đó
có thể tác động đến hai chỉ tiêu một cách tích cực hoặc tiêu cực hoặc tác động có
tính hai mặt tuỳ từng thời điểm. Vì vậy, các doanh nghiệp cần nghiên cứu nhân tố
này để phát huy hay hạn chế sự tác động của nó đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh, từ đó làm cơ sở để đề ra các đờng lối, chính sách thích hợp.
1. Nhân tố khách quan:
1.1.Giá cả và các mặt hàng cạnh tranh.
Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp cùng ngành và cùng sản xuất một ngành
hàng hoặc một nhóm hàng có thể trở thành bạn hàng của nhau trong kinh doanh,
giúp nhau về vốn, kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm. Nhng ngợc lại, các doanh nghiệp
này cũng có thể trở thành đối thủ của nhau trên thị trờng đầu vào và đầu ra.
Đối với thị trờng đầu vào: Doanh nghiệp muốn tăng lợi nhuận, đồng nghĩa với
việc tăng hiệu quả buộc doanh nghiệp phải tìm mọi giải pháp để giảm chi phi, nhất
là chi phí vật t, nguyên vật liệu bằng cách mua chúng trực tiếp từ ngời sản xuất,
9
tránh nhập qua nhiều khâu trung gian và thực hiện việc so sánh giá cả cũng nh
chất lợng từ các nhà cung cấp để có quyết định đúng đắn.
Đối với thị trờng đầu ra: Trong nền kinh tế thị trờng, giá cả sản phẩm thuộc
nhân tố khách quan, nó phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng. Do đó, các doanh
nghiệp phải xây dựng các chính sách giá cả hợp lý, linh hoạt, thúc đẩy doanh số
bán hàng, chiếm lĩnh thị trờng và tăng hiệu quả. Nếu doanh nghiệp định giá cao
hơn thị trờng tất yếu sức mua hàng hoá đó sẽ giảm vì còn vô số kẻ cạnh tranh với
doanh nghiệp đang bán những sản phẩm tơng tự , có chất lợng tơng đơng hoặc
kém hơn một chút và cũng có thể là tốt hơn. Ngợc lại, nếu doanh nghiệp định giá
quá thấp, hiệu quả kinh doanh sẽ ảnh hởng.
1.2. Nhân tố sức mua và cấu thành sức mua
Nhân tố này chịu sự tác động của: giá cả, chất lợng sản phẩm, thu nhập, thói
quen và thị hiếu của ngời tiêu dùng. Nhng bản thân nhân tố sức mua và cấu thành
sức mua chịu ảnh hởng của nhân tố số lợng và cơ cấu mặt hàng sản xuất. Mỗi một
sản phẩm của doanh nghiệp có hiệu quả riêng nên nhân tố sức mua và cấu thành
sức mua cũng khác nhau, làm cho hiệu quả chung của doanh nghiệp cũng thay
đổi. Nếu sản xuất kinh doanh các mặt hàng phù hợp với nhu cầu, có hiệu quả cao,
chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ mặt hàng của doanh nghiệp thì hiệu quả của
doanh nghiệp cũng tăng lên. Do vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải ngiên cứu kỹ nhân
tố này để có kế hoạch sản xuất kinh doanh hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất.
1.3.Nhân tố thời vụ
Trong sản xuất và tiêu dùng luôn có nhân tố thời vụ. Thời vụ sản xuất và thời
vụ tiêu dùng có khi phù hợp nhau nhng có khi lại mâu thuẫn nhau. Mâu thuẫn này
ảnh hởng tới thời gian dự trữ, ảnh hởng tới chi phí dự trữ, từ đó tác động đến hiệu
quả. Nhân tố này quyết định cơ cấu mặt hàng kinh doanh của doanh nghiệp trong
từng thời kỳ do đó ảnh hởng tới công tác tổ chức sản xuất kinh doanh. Nhng nhân
tố này rất phức tạp, không phải thời vụ sản xuất và tiêu dùng cứ phù hợp nhau là
giảm đợc thời gian dự trữ mà hiệu quả kinh doanh tăng.
1.4. Nhân tố tài nguyên môi trờng
Tài nguyên môi trờng cũng có ảnh hởng tới hiệu quả kinh doanh rất lớn đối
với nền kinh tế. Nếu nh nguồn tài nguyên dồi dào sẽ làm cho giá nguyên vật liệu
rẻ, chi phí sản xuất giảm dẫn đến giá thành sản phẩm giảm và làm tăng lợi nhuận,
10
tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn. Bên
cạnh những thuận lợi về tài nguyên môi trờng mang lại cũng có lúc nó lại ảnh hởng
tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nh chi phí khắc phục hậu quả
thiên tai, chi phí an toàn lao động, giá nguyên vật liệu tăng do tài nguyên thiên
nhiên khan hiếm cũng làm cho hiệu quả kém đi.
1.5. Nhân tố kinh tế vĩ mô và các chế độ, chính sách của Nhà nớc
Từ khi Nhà nớc thay đổi cơ chế, chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự quản
lý, điều tiết của Nhà nớc, phát triển đất nớc theo định hớng Công nghiệp hoá -
Hiện đại hoá bộ mặt nền kinh tế có nhiều thay đổi. Các doanh nghiệp trong nớc có
thể liên doanh, liên kết với nớc ngoài mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, các
chính sách đầu t thông thoáng hơn. Mục tiêu phát triển của doanh nghiệp phải
xuất phát từ định hớng phát triển của đất nớc. Lợi ích của doanh nghiệp gắn chặt
với lợi ích kinh tế - xã hội của đất nớc.
Một trong những công cụ chính của Nhà nớc để điều tiết nền kinh tế là các
chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng, luật pháp. Đó là hệ thống các nhân tố tác
động trực tiếp hay gián tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nếu chính sách lãi suất tín dụng quy định mức lãi suất quá cao sẽ gây cản trở cho
việc vay vốn của doanh nghiệp và làm tăng chi phí vốn, lợi nhuận giảm và hiệu
quả kinh doanh cũng sẽ giảm.
2. Nhân tố chủ quan.
2.1.Nhân tố quản trị trong doanh nghiệp.
Quản trị kinh doanh ở các doanh nghiệp công nghiệp là việc tổ chức bộ máy
quản lý và tổ chức sản xuất sao cho hợp lý.
Nhân tố quản trị liên quan trực tiếp đến việc lập kế hoạch kinh doanh, tổ chức
thực hiện kinh doanh hay nói cách khác là liên quan đến toàn bộ quá trình sản
xuất kinh doanh. Doanh nghiệp muốn có bộ máy quản trị tốt phải có một đội ngũ
cán bộ có trình độ học vấn cao, không những nắm vững kiến thức về tổ chức quản
lý và kinh doanh mà còn phải nắm bắt đợc xu hớng biến động về nhu cầu tiêu
dùng, thích ứng với cơ chế thị trờng, phải có khả năng nhìn xa trông rộng, khả
năng tiên đoán, phân tích các tình huống để hoạch định cho mình một bớc đi trong
tơng lai.
11
Hơn nữa, việc lựa chọn bộ máy quản trị phù hợp với từng doanh nghiệp, từng
loại hình kinh doanh, đảm bảo nguyên tắc gọn nhẹ, thống nhất, linh hoạt sẽ giúp
cho quá trình sản xuất trôi chảy, có thể kết hợp các nguồn lực đầu vào tối u nhất,
từ đó nâng cao hiệu quả.
2.2.Lao động
Lao động là chủ thể trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Mọi nỗ lực đa
khoa học kỹ thuật, trang thiết bị hiện đại vào sản xuất để nâng cao hiệu quả kinh
doanh đều do con ngời tạo ra và thực hiện chúng. Song để đạt đợc điều đó đội
ngũ nhân viên lao động cũng cần phải có một lợng kiến thức chuyên môn ngành
nghề cao, góp phần vào ứng dụng trong sản xuất tốt, tạo ra những sản phẩm có
chất lợng cao, phù hợp với nhu cầu tiêu dùng trên thị trờng mang lại lợi ích cho
doanh nghiệp.
2.3.Vốn kinh doanh
Vốn kinh doanh cũng là một yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của mọi
doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh lớn, nó sẽ là cơ sở cho
doanh nghiệp mở rộng hoạt động kinh doanh của mình. Vốn là nền tảng, là cơ sở
cho doanh nghiệp hoạt động, góp phần đa dạng hoá phơng thức kinh doanh, đa
dạng hoá thị trờng, đa dạng hoá mặt hàng, xác định đúng chiến lợc thị trờng.
Ngoài ra, vốn còn giúp cho doanh nghiệp đảm bảo độ cạnh tranh cao và giữ u thế
lâu dài trên thị trờng.
2.4.Trang thiết bị kỹ thuật
Ngày nay, có lẽ công nghệ là nguồn thay đổi năng động nhất trong tơng lai.
Sự thay đổi này mang lại những thách thức cũng nh những đe doạ đối với các nhà
doanh nghiệp. Một số ý kiến cho rằng nó là: sự phá huỷ của sáng tạo nhờ đó
những sản phẩm mới thay thế các sản phẩm cũ rất thờng xuyên. Nhng cũng nhờ
nó mà con ngời đợc giải phóng sức lao động, năng suất tăng lên rất nhiều lần
trong cùng một thời gian, dẫn tới tăng hiệu quả. Mặt khác, trang thiết bị kỹ thuật
không những đáp ứng cho khách hàng sản phẩm tốt, hình dáng đẹp, không xâm
hại đến sức khoẻ mà còn thoả mãn những nhóm khách hàng đòi hỏi sản phẩm có
thuộc tính đặc biệt.
12
III. Phơng pháp và hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp.
1. Một số quan điểm trong việc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trong cơ chế thị trờng hầu hết các doanh nghiệp khi sản xuất kinh doanh
đều chú trọng đến hiệu quả, để quá trình sản xuất diễn liên tục đòi hỏi hiệu quả
của nó phải cân đối với các mối quan hệ khác. Do vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh
doanh phải dựa vào các quan điểm sau đây:
-Đảm bảo sự thống nhất giữa nhiệm vụ chính trị và kinh doanh trong việc
nâng cao hiệu quả kinh doanh.
-Bảo đảm sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội.
- Bảo đảm tính toàn diện và tính hệ thống trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.
-Bảo đảm tính thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.
-Căn cứ vào kết quả cuối cùng cả về hiện vật và giá trị để đánh giá hiệu quả
kinh doanh.
2. Phơng pháp đánh giá hiệu quả kinh doanh.
Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần nghiên
cứu và nhận thức đúng các phơng pháp đánh giá hiệu quả kinh doanh. Có một số
phơng pháp phân tích hiệu quả kinh doanh chủ yếu sau:
2.1.Phơng pháp chi tiết
Mọi kết quả kinh doanh đều cần thiết và có thể chi tiết theo những hớng khác
nhau. Thông thờng trong phân tích, phơng pháp chi tiết đợc thực hiện theo những
hớng:
Chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu: Mọi kết quả kinh doanh biểu
hiện các chỉ tiêu đều bao gồm nhiều bộ phận. Chi tiết các chỉ tiêu theo các bộ
phận cùng với sự biểu hiện về lợng của các bộ phận đó sẽ giúp ích rất nhiều trong
việc đánh giá chính xác kết quả đạt đợc. Với ý nghĩa đó, phơng pháp chi tiết theo
bộ phận cấu thành đợc sử dụng rộng rãi trong phân tích mọi mặt kết quả kinh
doanh. Ví dụ: trong phân tích giá thành, chỉ tiêu đơn giá đơn vị sản phẩm hoặc
mức chi phí thờng đợc chi tiết theo các khoản mục giá thành.
13
Chi tiết theo thời gian: kết quả kinh doanh bao giờ cũng là kết quả của một
quá trình. Do nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan, tiến độ thực hiện
quá trình đó trong từng đơn vị thời gian xác định thờng không đồng đều. Chi tiết
theo thời gian sẽ làm cho việc đánh giá kết quả kinh doanh đợc sát, đúng và tìm
các giải pháp có hiệu quả cao cho công việc kinh doanh. Tuỳ theo đặc tính của
quá trình kinh doanh, tuỳ nội dung kinh tế của chỉ tiêu phân tích và tuỳ mục đích
phân tích khác nhau có thể lựa chọn khoản thời gian và chỉ tiêu chi tiết cho phù
hợp.
Chi tiết theo địa điểm: Phơng pháp này nhằm đánh giá kết quả hoạt động
kinh doanh của từng bộ phận, phạm vi và địa điểm khác nhau, nhằm khai thác mặt
mạnh và khắc phục mặt yếu kém của bộ phận và phạm vi hoạt động khác nhau.
2.2. Phơng pháp so sánh
Phơng pháp so sánh đợc sử dụng rộng rãi nhất trong phân tích hiệu quả kinh
doanh với mục đích đánh giá hiệu quả, đánh giá vị trí và xu hớng biến động của
đối tợng phân tích.
Các chỉ tiêu phân tích có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình phân
tích. Để phục vụ cho mục đích cụ thể của phân tích, ngời ta thờng tiến hành so
sánh bằng hai cách: so sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tơng đối. Các chỉ
tiêu đa ra so sánh cần phải thống nhất với nhau:
- Đảm bảo tính thống nhất về nội dung kinh tế của chỉ tiêu.
- Đảm bảo tính thống nhất về phơng pháp tính các chỉ tiêu.
- Đảm bảo tính thống nhất về đơn vị tính của các chỉ tiêu cả về số lợng, thời
gian và giá trị.
2.2.1. Phơng pháp so sánh tuyệt đối:
Phơng pháp này cho ta biết đợc khối lợng, quy mô tăng giảm của doanh
nghiệp qua các thời kỳ phân tích hoặc giữa các doanh nghiệp với nhau.
= -
Mức tăng giảm trên chỉ phản ánh về lợng, thực chất của việc tăng giảm trên
không nói là có hiệu quả, tiết kiệm hay lãng phí. Phơng pháp này đợc dùng kèm
với các phơng pháp khác khi đánh giá hiệu quả giữa các kỳ
2.1.2. Phơng pháp so sánh tơng đối
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét