Chủ Nhật, 16 tháng 3, 2014

Tài liệu Vận động hành lang trong nền chính trị Mỹ và một số liên hệ tới Việt Nam docx


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Vận động hành lang trong nền chính trị Mỹ và một số liên hệ tới Việt Nam docx": http://123doc.vn/document/1039444-tai-lieu-van-dong-hanh-lang-trong-nen-chinh-tri-my-va-mot-so-lien-he-toi-viet-nam-docx.htm



Vận động hành lang trong nền
chính trị Mỹ và một số liên h
ệ tới
Việt Nam


Hoạt động vận động hành lang (lobby) đã và đang trở thành một thứ
văn hóa hính trị ở Mỹ. Khi “lobby” đã trở thành một phần không thể
thiếu của nền chính trị Mỹ thì tất cả những ai muốn gây ảnh hưởng đối
với dư luận hay đến việc hoạch định chính sách của Mỹ đều phải tuân
thủ quy luật này. Hoạt động lobby hầu như đã thâm nhập vào toàn bộ
các lĩnh vực và các ngành sản xuất, kinh doanh tại Mỹ và trong đó có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng và hiệu quả nhất khi được sử dụng trong quá
trình xây dựng chính sách và pháp luật tại quốc gia này.
Hoạt động vận động hành lang (lobby) đã và đang trở thành một thứ
văn hóa - chính trị ở Mỹ. Khi “lobby” đã trở thành một phần không thể
thiếu của nền chính trị Mỹ thì tất cả những ai muốn gây ảnh hưởng đối
với dư luận hay đến việc hoạch định chính sách của Mỹ đều phải tuân
thủ quy luật này. Hoạt động lobby hầu như đã thâm nhập vào toàn bộ
các lĩnh vực và các ngành sản xuất, kinh doanh tại Mỹ và trong đó có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng và hiệu quả nhất khi được sử dụng trong quá
trình xây dựng chính sách và pháp luật tại quốc gia này.
1. Hoạt động vận động hành lang ở Mỹ
Vận động hành lang (lobby) được hiểu là những hoạt động hậu
trường thường thấy ở nhiều nước trên thế giới. Qua hoạt động này,
những người vận động (là người chuyển tải quan điểm của một bộ phận
dân cư trong xã hội) có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới những
thành viên của cơ quan lập pháp, thuyết phục họ thực hiện hoặc không
thực hiện hành vi lập pháp mới để đạt được kết quả như những người
vận động hành lang mong muốn.
Có thể nói, Mỹ là nơi hoạt động vận động hành lang diễn ra sôi nổi
nhất thế giới và vận động hành lang cũng được coi là một phần không
thể thiếu của nền chính trị Mỹ (chủ yếu trong lĩnh vực chính trị, lập
pháp). Xuất hiện từ khi nước Mỹ mới thành lập, lobby chính là một
“thói quen chính trị trong việc hình thành các chính sách của Mỹ và
thói quen này đã được luật pháp Mỹ quy định và bảo hộ (1). ở Mỹ,
lobby được hiểu là sự vận động các nghị sĩ, dân biểu trong Quốc hội
Mỹ ở cả Thượng viện và Hạ viện để họ đưa ra hay ủng hộ các đạo luật,
các nghị quyết, các quyết định mang tính chính sách có lợi cho các
nhóm lợi ích khác nhau. Người làm nhiệm vụ này được gọi là nhà vận
động hành lang. Người đó được trả lương để tác động tới bộ máy lập
pháp hoặc dư luận. Hiện nay, phố K chính là nơi đặt trụ sở của các
công ty lobby hàng đầu nước Mỹ.
Mỹ đã có nhiều văn bản pháp luật thừa nhận và quy định các hoạt
động lobby. Đạo luật quan trọng nhất áp dụng cho hoạt động lobby ở
Mỹ là Đạo luật vận động hành lang được Quốc hội Mỹ thông qua năm
1946 (The Federal Regulation of Lobbying Act). Ngày 19/12/1995,
Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã ký ban hành Đạo luật về Công khai hóa
hoạt động lobby (Lobbying Disclosure Act of 1995) điều chỉnh các mối
quan hệ trong và ngoài nước ở Mỹ và quy định: “Bắt buộc những người
hoạt động lobby phải đăng ký, phải công khai hóa các khách hàng, các
cuộc tiếp xúc, công khai hóa các vấn đề lobby và số tiền công được chi
trả. Như vậy, trên thực tế, lobby ở Mỹ đã và đang tồn tại như một loại
hình kinh doanh mang tính chính trị - xã hội, có tác động mạnh mẽ vào
quá trình hình thành chính sách đối nội, đối ngoại của Mỹ.
2. Vị trí, vai trò của các nhóm lợi ích trong hoạt động vận động
hành lang ở Mỹ
Tại Mỹ, quá trình xây dựng các chính sách và pháp luật chịu ảnh
hưởng khá mạnh từ hoạt động vận động hành lang mà những người
thực hiện hoạt động này là các nhóm lợi ích. Do đó, cũng có thể nói
việc xây dựng các chính sách và pháp luật chịu ảnh hưởng bởi sự tranh
giành hay thỏa hiệp giữa các nhóm lợi ích. Các nhóm lợi ích là tổ chức
của những người có cùng quan tâm, có cùng quan điểm với từng vấn đề
xã hội khác nhau; cố gắng tác động đến việc xây dựng chính sách của
Chính phủ và đặc biệt là muốn chuyển yêu cầu của họ thành các chính
sách để phục vụ lợi ích của nhóm dân cư có cùng mối quan tâm mà họ
là người đại diện (2) . Ngoài ra, “các nhóm lợi ích vận động chính
quyền cho những lợi ích của họ chính là biểu hiện của nền dân chủ tự
do” (3). Lời khẳng định đó của Tổng thống Jefferson đã chứng tỏ các
nhóm lợi ích có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị Mỹ.
Các nhóm lợi ích ở Mỹ ra đời rất sớm và ngày càng phát triển nhanh
về số lượng, tổ chức, quy mô và kỹ năng hoạt động. “Ngày nay, có hơn
22.000 nhóm lợi ích có tổ chức ở Mỹ, và hàng chục ngàn người đăng
ký chính thức làm nghề vận động hành lang tại Washington” (4). Có
khoảng 60% dân Mỹ tham gia vào các nhóm lợi ích. Như vậy, sự tham
gia của công dân vào chính trị nói chung và quá trình ra quyết định nói
riêng là một trong những đặc trưng của hệ thống dân chủ truyền thống
Mỹ.
Có rất nhiều nhóm lợi ích khác nhau: (i) Nhóm lợi ích về kinh doanh
như các tập đoàn kinh tế, các công ty đa quốc gia; (ii) Nhóm hiệp hội
nghề nghiệp; (iii) Nhóm liên Chính phủ; (iv) Nhóm lợi ích công; (v)
Nhóm công đoàn. Các nhóm lợi ích của Mỹ hết sức đa dạng và về thực
chất là các phe phái chính trị tập hợp lại với nhau vì một lợi ích chung
nào đó. Họ đấu tranh, vận động nhằm vào các bộ phận khác nhau của
Chính phủ để bảo đảm tối đa lợi ích cho nhóm mình. Nguồn gốc ra đời
của các nhóm lợi ích nằm ở chính mục tiêu mà họ theo đuổi, đó là: thứ
nhất, các nhóm lợi ích ra đời nhằm bảo vệ những lợi ích của họ về kinh
tế; thứ hai, các nhóm lợi ích cũng là sản phẩm của các phong trào xã
hội, phát triển qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử nước Mỹ. Chẳng
hạn các phong trào đấu tranh đòi bãi bỏ chế độ nô lệ, đòi tăng lương và
cải thiện điều kiện làm việc…; thứ ba, các nhóm lợi ích ra đời nhằm
tìm kiếm lợi ích từ Chính phủ trong lĩnh vực kinh tế và cả lĩnh vực
chính trị, tinh thần. Các nhóm này có tính chất phi tập trung hóa quyền
lực chính trị với các bang và các địa phương, tức được hình thành ngẫu
nhiên và dựa trên nhu cầu lợi ích xã hội. Các nhóm lợi ích này hoạt
động rất năng động không chỉ dồn sức cho hoạt động chính trị mà còn
cho cả những vấn đề mà họ quan tâm và thời gian tồn tại của những
nhóm này là rất ngắn. Chúng xuất hiện khi có các vấn đề xuất hiện, rồi
lại biến mất khi vấn đề được giải quyết.
Sức mạnh của các nhóm lợi ích nằm ở lá phiếu ủng hộ cho các ứng
cử viên trong các cuộc bầu cử vào các chức vụ khác nhau của Chính
phủ và những đóng góp tài chính của họ cho các chiến dịch vận động
tranh cử thông qua các Uỷ ban hành động chính trị (PAC). Hiện nay,
các nhóm lợi ích có nhiều ảnh hưởng ở Quốc hội là: Tổ chức nông
nghiệp Liên bang Mỹ; Tổ chức công đoàn AFL - CIO; Liên đoàn người
tiêu dùng Mỹ (Consumer Federation of America Conservative Union);
… Các nhóm lợi ích này thường ảnh hưởng tới các nghị sỹ của cả hai
đảng (đảng Cộng hoà và đảng Dân chủ), do đó, trong không ít trường
hợp, lá phiếu của các nghị sỹ thể hiện tác động của các nhóm lợi ích
hay của các khu vực hơn là của đảng phái. Các nhóm lợi ích này thực
hiện chức năng tiếp điểm, thể hiện quan điểm và đại diện cho lợi ích
của các nhóm riêng biệt trong xã hội. Ngoài ra, còn cung cấp nhiều
thông tin và kiến thức chuyên biệt về việc bố trí sắp xếp những thiết
chế chính thức.
Nước Mỹ đứng trước sự trái ngược: vừa phải thừa nhận tính đa dạng
về lợi ích; vừa phải ngăn ngừa các nhóm lợi ích này thông qua hoạt
động vận động hành lang có thể gây lũng đoạn chính sách. Một mặt, họ
tạo ra hàng loạt luật và án lệ mới bảo vệ hệ thống chính trị và các đảng
phái khỏi ảnh hưởng lobby về tài chính (tiền chi cho vận động hành
lang tại Mỹ vào năm 2004 lên đến 2, 1 tỷ USD)(5). Mặt khác, họ thừa
nhận và luật hóa các nhóm lợi ích, các công ty vận động hành lang như
đã nói ở trên. Chính sự tự do trong việc lobby chính sách đã tạo ra rất
nhiều nhóm lợi ích cạnh tranh và đối trọng lẫn nhau và đã có lúc cả hệ
thống chính quyền Mỹ bị chao đảo vì các nhóm lobby. Một cơn sốc
chính trị nổ ra trong Quốc hội Mỹ khi Abramoff, nhà vận động hành
lang có thế lực nhất của Mỹ bị kết tội trong một loạt scandal chính trị
cao cấp. Tại tòa án, Abramoff đã nhận tội biển thủ, gian dối tài chính
và mua chuộc chính khách. Tạp chí Time gọi ông ta là “người đã mua
cả Washington”. Trung tâm điều tra độc lập Center for Responsive
Politics cho biết đã điểm danh được hơn 300 nghị sĩ của cả hai đảng
từng hưởng dân huệ từ Abramoff từ năm 1999. Sau vụ khủng hoảng
này, hàng loạt các kiến nghị cải tổ luật về các nhóm lợi ích được đưa ra.
Luật Lobby sửa đổi ngày 18/1/2006 quy định cấm các hình thức quà
cáp “bồi dưỡng” cho các nghị sĩ có giá trị từ 20 USD trở lên, tặng vé
máy bay, chiêu đãi các kỳ nghỉ, các chuyến đi thực tế của các nghị sĩ
theo lời mời của các tổ chức, cá nhân, mời cơm thân mật…
Nhưng bên cạnh đó, lịch sử chính trị Mỹ cũng có rất nhiều ví dụ về
những ảnh hưởng tích cực của các nhóm lợi ích với chính sách: Vào
cuối thập kỉ 90, dưới sự lobby của các tập đoàn dược phẩm hùng mạnh,
việc nhập khẩu thuốc theo đơn vào Mỹ rất ngặt nghèo. Không chịu nổi
giá thuốc leo thang, các cụ già vùng Đông Bắc Mỹ, dưới sự tổ chức của
các hội hưu trí, đã đi xe buýt sang Canada mua thuốc (trái phép). Phong
trào bất tuân dân sự này ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính quyền. Dù cuộc
chiến pháp lý giữa các tập đoàn thuốc và người tiêu dùng còn tiếp diễn,
nhưng hàng loạt tiểu bang đã mặc cả với các hãng thuốc để giảm giá
cho người nghèo hay nới lỏng quy định nhập khẩu thuốc (6).
3. Hoạt động vận động hành lang trong nền chính trị Mỹ
Vận động hành lang (lobby) là một từ rất phổ biến trong đời sống
chính trị Mỹ, đã được thể chế hoá và gắn liền với hoạt động của các
nhóm lợi ích - hay nhóm gây áp lực. “Một khi đã đắc cử vào các cơ
quan lập pháp hay hành pháp các cấp từ liên bang đến bang và địa
phương, thì những thành viên Quốc hội và quan chức nhà nước sẽ bị cả
một đạo quân “lobby” đông đảo bao vây và chiếu cố tận tình” (7). Các
nhóm lợi ích thường gây ảnh hưởng mạnh tới các cơ quan làm luật ở cả
cấp bang và liên bang, nhưng hoạt động của các nhóm lợi ích ở cấp
bang mạnh hơn cấp liên bang. Các nhóm này vận động để thông qua
hoặc bác bỏ các dự luật ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. Do tính chất
của hệ thống chính trị Mỹ, không có một nhánh quyền lực nào có
quyền lực tuyệt đối, các nhánh kiềm chế quyền lực lẫn nhau, khiến cho
các nhóm lợi ích có thể tác động đến hoạt động lập pháp hay hoạt động
hành chính của chính quyền về các khâu, các giai đoạn của quá trình
làm luật và chính sách. Các nhóm này hoạt động trên phạm vi rộng lớn,
tham gia làm lobby vào mọi loại hình và trong tất cả các giai đoạn của
hoạt động chính trị. Những đối tượng cần đến các nhóm vận động là
các tổ chức chính trị, các công ty, chính quyền tiểu bang, chính quyền
nước ngoài và nhiều nhóm khác…
Về mặt lý thuyết và nguyên tắc, vận động hành lang là nhằm làm cho
hệ thống làm luật và thi hành luật đáp ứng lợi ích của người tiến hành
vận động hành lang. Các hoạt động vận động hành lang được tiến hành
theo quy trình: các nhóm vận động hành lang Quốc hội phải đăng ký
vào cơ sở dữ liệu trung ương và sau đó những người làm lobby tham
gia một phiên họp điều trần của các nhà lập pháp để nghe báo cáo,
những chất vấn chính thức và không chính thức với các quan chức nhà
nước được bầu hay bổ nhiệm. Sau đó, họ gửi những kết quả nghiên cứu
hay thông tin kỹ thuật tới các quan chức có liên quan, tìm cách quảng
bá một chủ đề, soạn thảo những dự luật có khả năng được đệ trình, tổ
chức chiến dịch viết thư gửi các nhà làm luật… Các nghị sĩ Quốc hội
sau khi tiếp xúc với những người làm lobby có thể đệ trình các dự luật
theo yêu cầu của họ. Và để hoạt động vận động hành lang thu được
hiệu quả, một nhà vận động phải hiểu rõ hệ thống chính trị Mỹ, phải có
quan hệ tốt với các nhà làm luật và các nhà hoạch định chính sách của
Chính phủ, những nhà tư vấn trong Quốc hội. Chính vì vậy mà có rất
nhiều nhà vận động hành lang giỏi lại chính là các cựu quan chức của
Chính phủ, những nhà tư vấn trong Quốc hội. Không ai khác, họ là
người có nhiều kinh nghiệm và xây dựng được nhiều mối quan hệ sau
nhiều năm làm việc và công tác. Ví dụ điển hình là cựu Nghị sĩ Mỹ
Bob Livingston đã trở thành một nhà vận động hành lang thành công
sau khi rời khỏi chính trường. Chỉ trong vòng 6 năm, nhóm lobby do
ông thành lập đã phát triển thành 1 trong 12 công ty lobby lớn nhất, với
doanh thu gần 40 triệu USD tính tới cuối năm 2004. Những năm gần
đây, không chỉ có những nhóm lợi ích thuê các nhà vận động hành lang
để tiến hành vận động cho mình mà ngay cả Chính phủ và các công ty
nước ngoài cũng tìm sự vận động theo hướng này. Những nhà vận động
hành lang được coi là nhịp cầu nối giữa các nhóm lợi ích và các nhà
chính trị, các nhà làm luật và hoạt động chính sách. Hoạt động của họ
vừa có tính thuyết phục các nhà làm luật, vừa tạo điều kiện để họ hiểu
được quan điểm của các nhóm lợi ích. Người dân Hoa Kỳ, các nhóm
lợi ích cần các chuyên gia lobby để có thể nhận được sự chú ý nhiều
hơn đối với các lợi ích và mong muốn của mình từ các cơ quan hành
pháp, lập pháp; còn bản thân các nghị sỹ Hoa Kỳ cũng thấy các chuyên
gia lobby thực sự hỗ trợ họ rất nhiều trong việc thông qua các dự luật
và các quyết định quan trọng, bởi tình trạng quá tải về công việc của
các nghị sỹ Hoa Kỳ trước yêu cầu cần được điều chỉnh của các quan hệ
phát sinh trong xã hội hiện nay. Chính các chuyên gia lobby là người
hướng các nghị sỹ Hoa Kỳ đến gần hơn với những bức xúc của xã hội,
người dân và những chủ thể có quyền lợi liên quan khác.
Nhưng mặt khác, điều không thể phủ nhận là vận động phải có năng
lực tài chính để chi trả cho hoạt động điều tra, thu thập thông tin và tác
động. Thực tế hiện nay, tại Mỹ, trong nền chính trị hiện đại, lobby
chính là việc dùng thế lực tiền bạc để vận động và làm áp lực để Quốc
hội hoặc các cơ quan nhà nước hành động theo chiều hướng phục vụ
quyền lợi của các nhóm lợi ích. Ngay cả một số cơ quan Chính phủ
trung ương và địa phương cũng dùng tiền bạc để lobby các nhà lập
pháp. Nhưng đồng tiền khi dính với quyền lực chính trị sẽ dẫn đến
nguy cơ bè đảng, cướp đi cơ hội của những nhóm yếu thế được có tiếng
nói trong quá trình ra quyết định. Đây cũng là khe hở để các thế lực tài
chính hùng mạnh có thể giành lợi thế trong các cuộc chạy đua vận động
và bóp méo công lý. Một số người vận động hành lang đã lợi dụng cơ
chế này để đóng góp tiền cho các chiến dịch chính trị và dành cho các
quan chức được bầu những đặc lợi và tất nhiên toàn bộ những đóng góp
này cũng luôn luôn kèm với kỳ vọng sẽ được đối xử thuận lợi trong
một số vấn đề sau này. Và thực tế, có thể gọi chúng là “của đút lót tế
nhị được nguỵ trang khéo léo”. Còn về hình thức hoạt động, lobby
không phải lúc nào cũng ở trong phòng họp, trên các phiên họp của
nghị viện hay các uỷ ban của nghị viện, mà chủ yếu ở ngoài hành lang
và hết sức phong phú bên ngoài trụ sở nghị viện với các cấp độ khác
nhau. Một số những chuyên viên vận động hành lang có những hành
động kèm theo những quà cáp bất hợp pháp trong lúc đề đạt ý nguyện
của khách hàng đến các nhà làm luật. Những món quà đó có thể là tiền
bạc hay những chuyến đi nghỉ, đi chơi xa thật đắt tiền. Những người
làm lobby luôn sẵn sàng để chiều theo sở thích, ý muốn của những
nhân vật quyền thế trong mọi tình huống. Các chuyên gia lobby cũng
bằng nhiều cách khác nhau tự tìm những con đường ngắn nhất và hiệu
quả nhất để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. Sam Ward, một trong
những người được mệnh danh là “ông vua lobby” của Hoa Kỳ, đã triệt
để áp dụng nguyên tắc: “con đường ngắn nhất để đạt được sự ủng hộ
của một nghị sỹ đối với một dự luật chưa được thông qua là đi qua dạ
dày của ông ta” (8).
Chính vì những luật lệ về lobby ở Mỹ rất thoáng nên không thể nào
liệt kê hết các phương thức hoạt động của nó. Với khoản tiền thu hàng
năm về tới 4 tỷ USD từ các khoản tiền ủng hộ, tài trợ của các nhà đầu
tư, có thể nói ưu thế về tài chính và những vận động “ngoài lề” trong
vận động hành lang đã và đang có ảnh hưởng to lớn tới chính trường
Mỹ và cụ thể là tới quá trình xây dựng chính sách và pháp luật nói
riêng. Điều nguy hiểm ở đây là sự nhập nhằng ranh giới giữa việc đầu
tư ủng hộ cho các chiến dịch tranh cử với hối lộ; giữa nhận tiền tài trợ
cho quỹ bầu cử với tham nhũng.
Ở Mỹ, những nhóm lobby mạnh nhất là những nhóm đại diện cho lợi
ích kinh doanh của các tập đoàn tư bản (chiếm tới 72%): Lobby công
nghiệp quốc phòng, Lobby dầu khí, Lobby phục vụ nước ngoài. Chỉ có
8% đại diện cho các tổ chức xã hội nghề nghiệp, khoảng 5% đại diện
cho các nhóm bảo vệ dân quyền, phúc lợi xã hội, 2% đại diện cho
người nghèo và 1% đại diện cho những nhóm yếu thế trong xã hội như
người già, người tàn tật. Như vậy, số người hành nghề vận động hành
lang đại diện cho quyền lợi của giới kinh doanh và doanh nghiệp chiếm
số lượng áp đảo. Các nhóm lobby này có một sức mạnh đáng kể trong
quá trình xây dựng chính sách và pháp luật ở Mỹ. Mặc dù các nghị sĩ
phải chịu sự chỉ đạo của các nhóm đảng phái trong Hạ viện và Thượng
viện khi bỏ phiếu, song họ vẫn phải dành sự quan tâm đáng kể đến ý
kiến của công luận và của cử tri tại các quận hay bang của mình. Nếu
một nghị sĩ nhận được yêu cầu của một số lượng đáng kể cử tri về một
vấn đề nào đó, trong lúc ban lãnh đạo đảng yêu cầu vị này phải bỏ
phiếu khác đi, thì tiếng nói của cử tri mới là nhân tố chi phối kết quả bỏ
phiếu cuối cùng. Khi các nhóm lợi ích cùng kết thành một hiệp hội, có
sự liên kết hơn, họ sẽ hình thành một tổ chức vận động hành lang có
tính chất chuyên nghiệp. Với các chuyên gia chuyên vận động hành
lang dựa vào mối quan hệ tương hỗ giữa các nghị sĩ, tiếng nói của họ sẽ
được chú ý hơn trước Quốc hội, khiến cho Quốc hội khó có thể bỏ qua
ý kiến của các liên minh trước những vấn đề chính sách lớn. Hoặc có
trường hợp các nghị sĩ phe thiểu số khi cần có tiếng nói ủng hộ thì tiếng
nói của liên minh là bằng chứng cho sự ủng hộ rộng rãi đối với quan
điểm, chính sách đó.
Như vậy, trên thực tế, lobby ở Mỹ đã và đang là một tồn tại mang
tính chính trị - pháp lý - xã hội, có tác động mạnh mẽ đến Quốc hội và
Chính phủ Mỹ trong tất cả các công đoạn của quá trình xây dựng pháp
luật và hình thành chính sách đối nội, đối ngoại. Ví dụ như, do đặc thù
của việc bầu cử rất tốn kém, nên hệ thống chính trị cần nhiều tiền để
thực hiện các hoạt động. Vì thế, khi các công đoàn, công ty và tổ chức
đóng góp tiền bạc cho các đảng và các nhà chính trị thì đồng thời họ
đóng luôn vai trò quan trọng trong việc định đoạt chương trình chính trị
nhà nước. Mỹ có một hệ thống chính trị và pháp luật rất phức tạp và
trong đó vận động hành lang là hoạt động liên quan trực tiếp đến cả hệ
thống chính trị lẫn hệ thống pháp luật, nên chính bản thân nó cũng hết
sức phức tạp.
Hoạt động vận động hành lang ở Mỹ đồng thời còn là sự phản ánh,
giám sát, kiềm chế, đối trọng của các nhóm lợi ích và nhân dân Mỹ đối
với các cơ quan công quyền. Thêm nữa, đây là một cơ chế quan trọng
thể hiện được tính dân chủ rất lớn mà qua đó các công dân Mỹ có thể
phản ánh trực tiếp những ý tưởng, nguyện vọng, nhu cầu và quan điểm
của mình tới các vị quan chức được bầu. Lobby không phải là một
ngành quyền pháp lý mà mang đậm tính chất xã hội, nhưng về bản
chất, nó là sự chia sẻ quyền lực giữa Nhà nước và xã hội. Bản chất của
“vận động hành lang nhìn chung không phải là xấu …” (9), tuy nhiên,
với muôn màu muôn vẻ của các kiểu vận động mà không có sự kiểm
soát chặt chẽ, nó cũng không tránh khỏi việc bị lạm dụng, gây nhiều tệ
nạn và tai tiếng.
4. Một số liên hệ tới Việt Nam
Các nhóm lợi ích và “vận động hành lang” còn chưa phổ biến ở Việt
Nam, và đôi khi những khái niệm này còn được hiểu theo nghĩa tiêu
cực. Dù nền tảng Hiến pháp đã ghi nhận quyền tham gia của nhân dân
vào đời sống chính trị và quá trình ra quyết định của cơ quan nhà nước,
đặc biệt là quyền yêu cầu người đại biểu nhân dân lắng nghe, truyền đạt
ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân đối với chính sách, pháp luật,
nhưng việc thực hiện còn khá khiêm tốn và hạn chế. Cũng có khi các
hiệp hội, tổ chức, cá nhân gặp gỡ người có thẩm quyền đề nghị xem xét
lại chính sách, qui định nhưng đây không phải là hoạt động lobby
đúng nghĩa mà là sự “chạy chọt”. Cơ sở của lobby là quyền lợi mâu
thuẫn nhau, đặt trên nền tảng đa nguyên. Mục đích lobby là vì lợi ích
kinh tế. Và để thực hiện nó phải bằng tiền. ở Việt Nam, lợi ích là thống
nhất nên việc lobby trong lập pháp thực chất không tồn tại. Tuy nhiên,
lobby là một vấn đề mới và cần phải nghiên cứu để xây dựng một hành
lang pháp lý cho hoạt động này ở nước ta (10).
Có một thực tế là sau những lần thua liên tiếp trong các vụ kiện bán
phá giá tôm, cá basa hay hạn ngạch xuất khẩu sản phẩm may mặc, dần
dần, Việt Nam cũng thấy rõ một điều rất vô lý, khi phía Việt Nam thậm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét