Trớc hết , mối liên hệ giữa các sự vật , hiện tợng là tất yếu, khách
quan vốn có của các sự vật , hiện tợng ấy . Bất kỳ sự vật, hiện tợng
nào tồn tại trên thế giới đều không thể tồn tại độc lập, riêng biệt mà
phải có sự liên hệ với bên ngoài . Bởi nh đã nói , thế giới vật chất là
vô hạn , không sinh ra , không mất đi , trong nó chỉ có những quá trình
vật chất biến đổi , chuyển hoá lẫn nhau . Con ngời cũng không thể
quyết định các sự vật , hiện tợng có mối liên hệ hay không. Chẳng
hạn , ngay chính bản thân con ngời , mặc dù là sinh vật bậc cao nhất
trong tự nhiên nhng cũng không thể tồn tại riêng biệt . Từ thời nguyên
thuỷ , con ngời đã phải sống tụ tập để chống lại thú dữ , cùng nhau lao
động để kiếm thức ăn . Cho đến nay cuộc sống văn minh , hiện đại hơn
rất nhiều nhng con ngời vì luôn có nhu cầu hiểu biết , giải trí , tình
cảm Do đó con ng ời càng có sự liên hệ chặt chẽ với xã hội . Dù
thích hay không , để tồn tại đợc , con ngời phải gắn bó liên hệ với xã
hội .
Thứ hai , mối liên hệ còn mang tính phổ biến .Vì mối liên hệ của
các sự vật , hiện tợng mang tính khách quan nghĩa là sự vật , hiện tợng
nào cũng có các mối liên hệ nên mối liên hệ có tính phổ biến . Một ví
dụ điển hình là : trong xu thế toàn cầu hoá các nền kinh tế hiện nay và
những vấn đề nh ô nhiễm môi trờng , bùng nổ dân số , bùng phát các
bệnh nguy hiểm : HIV AIDS , cúm gia cầm , đòi hỏi tất yếu các
quốc gia phải có sự hợp tác với các nớc khác trên thế giới . Mặc dù ,
mối liên hệ biểu hiện dới những hình thức riêng biệt , cụ thể tuỳ theo
điều kiện nhất định nhng chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ
phổ biến nhất , chung nhất . Những hình thức liên hệ riêng rẽ , cụ thể
đợc các nhà khoa học cụ thể nghiên cứu . Phép biện chứng duy vật chỉ
nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất , bao quát nhất của thế giới .
Bởi thế , PH . Ăngghen viết : Phép biện chứng là khoa học về sự liên
hệ phổ biến Cũng với những lý do nêu trên , triết học gọi mối liên hệ
đó là mối liên hệ phổ biến .
7
Thứ ba , tính đa dạng của mối liên hệ phổ biến . Vì thế giới vật
chất vô hạn , các sự vật , hiện tợng trong đó cũng muôn hình , muôn vẻ
nên mối liên hệ của chúng cũng mang tính đa dạng . Riêng bản thân
các sự vật , hiện tợng luôn biến đổi nên mối liên hệ của chúng với
bên ngoài cũng rất đa dạng . Do vậy, bên trong một sự vật , hiện tợng
cũng có thể chứa nhiều mối liên hệ . Nh mỗi con ngời chúng ta sống
trong một gia đình , ngoài mối liên hệ bên trong với các thành viên
gia đình , còn có mối liên với những cá nhân , tổ chức khác trong xã
hội . Vì vậy , mối liên hệ của chúng ta rất đa dạng .
1.3 Phân loại mối liên hệ
8
Dựa vào tính đa dạng có thể phân chia ra các mối liên hệ khác
theo từng cặp : mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài , mối
liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu , mối liên hệ bản chất và mối
liên hệ không bản chất , mối liên hệ tất nhiên và mối liên hệ ngẫu
nhiên , mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới và mối liên hệ
riêng bao quát một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực của thế giới , mối
liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp , trong đó sự tác động qua
lại phải thông qua trung gian mới thực hiện đợc , mối liên hệ giữa các
sự vật và mối liên hệ giữa các mặt hay giữa các giai đoạn phát triển
của sự vật để tạo thành lịch sử phát triển của sự vật v.v Tuy nhiên
sự phân chia các cặp chỉ mang tính chất tơng đối . Mỗi loại mối liên
hệ trong từng cặp đều có thể chuyển hoá cho nhau tuỳ theo phạm vi
bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả biến đổi vận động và phát
triển của sự vật . Cụ thể nh : nếu xét mối liên hệ của các thành viên
trong gia đình với xã hội bên ngoài thì nó là mối liên hệ bên ngoài .
Nhng nếu xét mối liên hệ đó trong một quốc gia , để phân biệt các
quốc gia khác nhau ( có sự khác nhau về chế độ chính trị , kinh tế ,
văn hóa , tôn giáo ) thì nó lại là mối liên hệ bên trong . Nếu xét
mối liên hệ giữa các công ty , xí nghiệp là những chủ thể độc lập kinh
doanh trên một đất nớc thì chúng có mối liên hệ bên ngoài . Tuy nhiên
xét tổng quát nền kinh tế đất nớc , chúng là những bộ phận đóng góp ,
xây dựng nền kinh tế nên mối liên hệ của chúng lúc này là mối liên
hệ bên trong .
9
Mỗi loại mối liên hệ nêu ra ở phần trên có vai trò khác nhau đối
với sự vận động và phát triển của sự vật . Ví dụ : Xét vai trò mối liên
hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài . Mối liên hệ bên trong là sự
quy định , tác động chuyển hoá lẫn nhau giữa các yếu tố , các mặt ,
thuộc tính bên trong sự vật . Do đó sự vận động , phát triển của sự vật
do mối liên hệ bên trong quyết định . Còn mối liên hệ bên ngoài là
mối liên hệ giữa các sự vật , hiện tợng , không giữ vai trò quyết định
tới sự tồn tại , phát triển của sự vật . Tuy vậy trong trờng hợp nhất định
, mối liên hệ bên ngoài có thể giữ vai trò quyết dịnh . Nhân cách con
ngời hình thành và phát triển phụ thuộc vào 3 yếu tố sau : tiền đề sinh
học và t chất di truyền học, môi trờng xã hội và cuối cùng là thế giới
quan cá nhân .Trong đó , tiền đề sinh học và t chất di truyền là ở bên
trong con ngời ; thế giới quan cá nhân bao gồm toàn bộ các yếu tố nh
quan điểm , lý luận, niềm tin , định hớng giá trị chịu sự tác động rất
lớn từ môi trờng xã hội . Ta thấy môi trờng xã hội là yếu tố quyết
định tới sự hình thành và phát triển nhân cách thông qua sự tác động
của gia đình , nhà trờng , xã hội tới cá nhân . Nh vậy , trong trờng hợp
này , mối liên hệ bên ngoài ( môi trờng xã hội ) đóng vai tró quyết định
tới sự vận động và phát triển của sự vật ( nhân cách ) chứ không phải
là mối liên hệ bên trong ( tiền đề sinh học, t chất di truyền học , thế
giới quan cá nhân ). Các cặp mối liên hệ khác cũng có quan hệ biện
chứng nh cặp mối liên hệ nêu trên , cùng với đặc trng riêng . Trong các
cặp trên thì mối liên hệ bản chất , mối liên hệ tất nhiên , mối liên hệ
chủ yếu giữ vai trò chủ đạo . Tuy nhiên , tuỳ theo các mối quan hệ
hiện thực xác định mà các mối liên hệ tơng ứng trong các cặp đó có
thể giữ vai trò quyết định .
Mặc dù việc phân loại chỉ mang tính tơng đối nhng cho ta xác
định rõ vai trò , vị trí của mỗi loại mối liên hệ . Thông qua đó, con
ngời có cách tác động phù hợp nhằm đa lại hiệu quả cao nhất trong
hoạt động của mình .
10
1.4 Nguyên tắc phơng pháp luận rút ra từ
nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Nh ta đã biết , mối liên hệ phổ biến có tính đa dạng tức là các sự
vật , hiện tợng không chỉ có một mối liên hệ mà đều có nhiều mối
liên phong phú , đa dạng . Do đó , khi nhận thức bất kỳ một sự vật ,
hiện tợng nào , chúng ta phải nhận thức về sự vật trong mối liên hệ
qua lại giữa các bộ phận , giữa các yếu tố , giữa các mặt của chính sự
vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác .
Đây chính là quan điểm toàn diện. Có nh vậy , sự vật mới đợc nhận
thức đúng đắn . Để nhận xét một con ngời , chúng ta không thể chỉ
nhận xét ngời đó trong mối quan hệ với chính chúng ta mà phải thông
qua các mối quan hệ khác , cả môi trờng của họ nữa . Có nh vậy , ta
mới có cái nhìn bao quát , khách quan nhất về con ngời đó . Việc nhận
xét ngời đó mới đúng đắn . Đồng thời , quan điểm toàn diện còn đòi
hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng mối liên hệ , xác định đợc vị trí ,
vai trò của chúng trong sự tồn tại , vận động và phát triển sự vật . Trên
cơ sở đó , trong hoạt động thực tiễn , ta có các phơng pháp tác động
phù hợp vào sự vật , đem lại hiệu quả cao nhất . Để thực hiện mục tiêu
dân giàu , nớc mạnh , xã hội công bằng , dân chủ , văn minh , một
mặt , chúng ta phải phát huy nội lực của đất nớc ta ; mặt khác , phải
biết tranh thủ thời cơ , vợt qua thử thách do xu hớng quốc tế hoá mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội và toàn cầu hoá kinh tế đa lại .
Nói tóm lại , thông qua việc tìm hiểu nguyên lý về mối liên hệ
phổ biến , giúp cho chúng ta có phơng pháp luận khoa học để nhận thức
và cải tạo hiện thực , tránh đợc các quan điểm tiêu cực , một chiều sai
lầm .
11
Chơng 2 . Mối liên hệ biện chứng giữa tăng
trởng kinh tế và bảo vệ môi trờng
2.1 Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trởng kinh
tế và bảo vệ môi trờng
2.1.1 Mối liên hệ giữa con ngời và tự nhiên
12
Chúng ta đã biết không có sự vật nào tồn tại một cách riêng lẻ
mà tất cả đều có mối liên hệ với các sự vật khác . Con ngời chúng ta
cũng vậy . Ngoài mối liên hệ với những ngời khác trong xã hội để thoả
mãn các nhu cầu về giải trí , thẩm mỹ , tình cảm , con ng ời còn có
mối liên hệ mật thiết với tự để thoả mãn nhu cầu thiết yếu nhất là
ăn , uống , chỗ ở và mặc . Để đáp ứng đợc nhu cầu đó , con ngời phải
tiến hành sản xuất vật chất . Sản xuất vật chất là điều kiện tồn tại cơ
bản của mọi xã hội . Nếu không có nó thì xã hội sẽ tiêu vong. Chính
trong quá trình đó , mối liên hệ giữa giới tự nhiên , con ngời và xã hội
hình thành . Mối liên hệ đó thể hiện sự thống nhất biện chứng giữa các
yếu tố tự nhiên và xã hội . Trớc hết , con ngời chỉ có thể tồn tại và
phát triển trong xã hội : không có con ngời sống tách biệt . Do đó ,
con ngời là một bộ phận của tự nhiên , là sản phẩm cao nhất của tự
nhiên , sống dựa vào tự nhiên , nằm trong lòng của tự nhiên , gắn với tự
nhiên bằng trăm nghìn mối dây liên hệ . Theo nghĩa rộng, tự nhiên là
toàn bộ thế giới vật chất vô cùng , vô tận , thì xã hội là một bộ phận
của giới tự nhiên . Không dừng lại ở đó , C. Mác và Ph . Ăngghen cho
rằng , con ngời và xã hội không phải là những bộ phận bình thờng mà
là những bộ phận đặc biệt của cái toàn thể kia . Những bộ phận ấy , một
mặt , tuân theo các quy luật của tự nhiên ; mặt khác , tuân theo các quy
luật của bản thân chúng , có bản chất riêng của chúng . Cùng với thời
gian , những bộ phận ấy ngày càng phát triển , ngày càng hoàn thiện ,
do đó càng có nhiều khả năng quyết định tính chất , chiều hớng biến
đổi của cái toàn thể kia , tức là của tự nhiên . ở đây hoạt động có ý
thức của con ngời ngày một tăng lên , ngày một hiệu quả . Quan trọng
hơn nữa , C. Mác đã xếp sự thống nhất giữa con ngời và tự nhiên nh
một vấn đề xã hội vì bản chất con ngời của tự nhiên chỉ tồn tại đối
với con ngời xã hội ; vì chỉ có trong xã hội , tự nhiên đối với con ngời
mới là một cái khâu liên hệ con ngời với con ngời
1
Đây là sự thống
nhất động , là một quá trình lịch sử luôn biến đổi và phát triển . Sự
thống nhất đó đợc thực hiện thông qua lao động của con ngời trong quá
13
trình sản xuất vật chất , thông qua thực tiễn . C.Mác đã từng viết : Lao
động trớc hết là một quá trình diễn ra giữa con ngời và tự nhiên , một
quá trình , trong đó , bằng hoạt động của chính mình , con ngời làm
trung gian , điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên .
Bản thân con ngời đối diện với thực thể của tự nhiên với t cách là lực
lợng của tự nhiên . Để chiếm hữu đợc thực thể của tự nhiên dới một
hình thái có ích cho đời sống của bản thân mình , con ngời vận dụng
những sức tự nhiên thuộc về thân thể của họ : tay và chân , đầu và hai
bàn tay. Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận
động đó , và làm thay đổi tự nhiên , con ngời cũng đồng thời làm thay
đổi bản tính của chính nó
2
Trong quá trình đó con ngời vẫn luôn luôn
dựa vào sự giúp đỡ của các lực lợng tự nhiên . Đó là quá trình lịch sử
tự nhiên thống nhất : chừng nào mà loài ngời còn tồn tại thì lịch sử
của họ và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau
3
Nh vậy , con ngời và tự nhiên có mối liên hệ hết sức chặt chẽ với
nhau .
2.1.2 Tăng trởng kinh tế và phát triển kinh tế
14
Theo quan điểm nh trên của C. Mác và Ph . Ăngghen , do con ngời
có mối liên hệ chặt chẽ với tự nhiên nên mọi hoạt động sản xuất của
con ngời cũng có tác động tới tự nhiên (cải tạo tự nhiên ) và ngợc lại tự
nhiên cũng có tác động tới hoạt động sản xuất của con ngời (gây ra điều
kiện khó khăn hoặc thuận lợi ) . Tuy nhiên , trong một thời gian dài ,
con ngời đã đánh giá nhẹ hoặc thậm chí quên đi mối liên hệ biện
chứng này mà chỉ mải mê cải tạo hiện thực , nâng cao đời sống của mình .
Trong giai đoạn nguyên thuỷ , con ngời chủ yếu săn bắn, hái lợm , sử
dụng những thứ có sẵn trong tự nhiên . Lúc này , tự nhiên đối với con
ngời nh một lực lợng thần bí . Môi trờng tự nhiên vẫn còn nguyên vẹn .
Khi công cụ lao động ngày càng phát triển thì xã hội ngày một tiến
lên. Con ngời sử dụng tài nguyên thiên nhiên nhiều hơn và môi trờng
sống của con ngời , hệ sinh thái đã có biến đổi ở một số mặt nhng cha
có biến động lớn nào . Bớc sang giai đoạn công nghiệp hoá , khoa học
kỹ thuật phát triển mạnh cha từng thấy, đem lại cho con ngời khả năng
cải tạo tự nhiên một cách mạnh mẽ . C.Mác đã viết : Những thời đại
kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào ,
với những t liệu lao động nào . Trình độ lực lợng sản xuất thể hiện
trình độ chinh phục tự nhiên của con ngời trong từng giai đoạn lịch sử
nhất định , do đó , nó là thớc đo năng lực thực tiễn của con ngời trong
quá trình cải tạo giới tự nhiên . Trong quá trình phát triển của xã hội ,
lực lợng sản xuất không ngừng biến đổi và hoàn thiện . Chính điều này
đã làm con ngời quên đi sự tác động của tự nhiên với bản thân và cho
rằng mình thống trị tuyệt đối . Công nghiệp hoá là giai đoạn tất yếu
cho tất cả các quốc gia nếu không muốn tụt hậu , suy vong . Lúc này ,
sự đi lên của một nền kinh tế đợc thể hiện qua chỉ số tăng trởng kinh
tế . Tăng trởng kinh tế là sự tăng lên về quy mô sản lợng của một nền
kinh tế trong một thời kỳ nhất định . Thế là , các quốc gia chạy đua
nhau tăng quy mô , sản lợng bằng mọi cách . Loài ngời với sự hỗ trợ
của khoa học kỹ thuật đã khai thác tối đa thiên nhiên mà không cần
biết hậu quả ra sao . Hậu quả là , con ngời đã phải trả giá cho sự coi
15
nhẹ mối liên hệ biện chứng giữa mình với tự nhiên : Các điều tra thực
trạng môi sinh toàn cầu cho thấy, mức độ ô nhiễm khí quyển mấy chục
năm qua do các chất khí độc hại đợc thải ra từ các xí nghiệp công
nghiệp và từ các thiết bị công nghiệp tiêu dùng là một hiểm hoạ đặc
biệt .Theo các nhà nghiên cứu , hàng năm nền công nghiệp thế giới đã
thải vào môi trờng 200 triệu tấn khí SO
2
, 150 triệu tấn oxit nitơ và 110
triệu tấn bụi độc hại. Do vậy mà trên thế giới có tới 50 % dân số
thành thị phải sống trong môi trờng có khí SO
2
vợt quá tiêu chuẩn,
hàng tỷ ngời phải sống trong môi trờng bụi than và bụi phấn vợt quá
mức cho phép Những năm cuối thế kỷ XX , khắp nơi lo ngại về
nguy cơ thay đổi khí hậu toàn cầu theo chiều hớng xấu đi : Lợng ma
tăng vọt gây lũ lụt , triều biển cờng bất thờng , bão lốc xảy ra ở
Trung Quốc , ấn Độ , Việt Nam , Tây Âu và đặc biệt là ở Vênêzuêla .
Động đất khủng khiếp xuất hiện ở Thổ Nhĩ Kỳ , Đài Loan . Băng tuyết
xuất hiện ở xứ nóng châu Phi . Trong khi nhu cầu dùng nớc ngày càng
tăng , hoạt động kinh tế và lối sống đô thị hiện đại đang làm suy kiệt
thuỷ vực của trái đất , kể cả nguồn nớc ngầm. Nhiều dòng sông nhỏ bị
biến mất . Khoảng 40 % dân số trên trái đất bị thiếu nớc . Đối với lớp
đất bao phủ bề mặt trái đất thì sự canh tác và lối sống của con ngời
có gọi là mang tính huỷ diệt trực tiếp nhất . Trong vòng ba thập niên
gần đây , loài ngời đã mất đi gần 2 tỉ ha đất màu mỡ , biến chúng
thành sa mạc và đất chết . Ngoài ra , còn có các hiểm hoạ đang ngày
càng có xảy ra nhiều hơn , dữ dội hơn nh ma axit , thủng tầng ôzôn,
làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh ung th . Chính G .H Brônstan , Chủ tịch
Uỷ ban môi trờng và phát triển thế giới nhận định , trừ chiến tranh hạt
nhân ra thì sự biến đổi của khí hậu là mối đe doạ lớn nhất đối với loài
ngời. Nó không những đe doạ sự tồn vong của con ngời mà còn uy
hiếp cả tơng lai của trái đất .
4
Nh vậy , tự nhiên đã trả thù lại con
ngời, vì con ngời đã tàn phá tự nhiên . Ph . Ăngghen đã dạy : Sự việc
nhắc nhở chúng ta từng giờ từng phút rằng chúng ta hoàn toàn không
thống trị đợc giới tự nhiên nh một kẻ xâm lợc thống trị một dân tộc
16
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét