Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên ở các trường trung học phổ thông thành phố hồ chí minh


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên ở các trường trung học phổ thông thành phố hồ chí minh": http://123doc.vn/document/1050880-thuc-trang-quan-ly-hoat-dong-boi-duong-giao-vien-o-cac-truong-trung-hoc-pho-thong-thanh-pho-ho-chi-minh.htm



2TCHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG GIÁO
VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
2T 39
2T2.1. Khái quát chung về sự phát triển kinh tế - xã hội – giáo dục Trung học phổ
thông TP Hồ Chí Minh
2T 39
2T2.1.1. Khái quát về sự phát triển kinh tế - xã hội TP Hồ Chí Minh2T 39
2T2.1.2. Sự phát triển giáo dục THPT TP.HCM2T 40
2T2.2. Thực trạng hoạt động bồi dưỡng giáo viên ở các trường Trung học phổ thông
TP Hồ Chí Minh
2T 44
2T2.2.1. Thực trạng nhận thức về hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên
THPT
2T 46
2T2.2.2. Đánh giá về nội dung hoạt động bồi dưỡng cho giáo viên trung học phổ thông2T 49
2T2.2.3. Hình thức, phương pháp bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông2T 53
2T2.2.4. Thời gian tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên THPT2T 56
2T2.2.5. Kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT2T 57
2T2.2.6. Hiệu quả hoạt động bồi dưỡng GV THPT2T 58
2T2.3. Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên ở các trường Trung học phổ
thông TP Hồ Chí Minh
2T 60
2T2.3.1. Xây dựng kế hoạch, chương trình bồi dưỡng giáo viên2T 60
2T2.3.2. Tổ chức, chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng giáo viên2T 64
2T2.3.3. Quản lý việc kiểm tra – đánh giá hoạt động bồi dưỡng giáo viên2T 68
2T2.3.4. Quản lý các điều kiện hỗ trợ hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT2T 71
2T2.3.5. Sự phối hợp quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên ở các trường Trung học phổ
thông TP.HCM
2T 74
2T2.4. Nguyên nhân của thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở TP
Hồ Chí Minh
2T 75
2TCHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO
VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI TP.HCM
2T 80
2T3.1. Nguyên tắc chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng GV2T 80
2T3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT2T 81
2T3.2.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về hoạt động bồi
dưỡng giáo viên
2T 82
2T3.2.2. Biện pháp 2: Điều tra khảo sát, quy hoạch và lập kế hoạch cho hoạt động bồi
dưỡng giáo viên
2T 84
2T3.2.3. Biện pháp 3: Đổi mới và cải tiến nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức
hoạt động bồi dưỡng giáo viên
2T 86
2T3.2.4. Biện pháp 4: Tăng cường các điều kiện phục vụ tốt cho kế hoạch bồi dưỡng giáo
viên
2T 89

2T3.2.5. Biện pháp 5: Kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng giáo viên2T 90
2T3.2.6. Biện pháp 6: Xây dựng cơ chế phối hợp trong tổ chức bồi dưỡng giáo viên2T 92
2T3.2.7. Biện pháp 7: Khuyến khích, hỗ trợ cho giáo viên tự bồi dưỡng2T 94
2T3.3. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp2T 96
2TKẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ2T 107
2T1. Kết luận2T 107
2T2. Kiến nghị2T 109
2TTÀI LIỆU THAM KHẢO2T 111
2TPHỤ LỤC2T 114


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Bộ GD-ĐT : Bộ Giáo dục và Đào tạo
BDTX : Bồi dưỡng thường xuyên
BDGV : Bồi dưỡng giáo viên
CBQL : Cán bộ quản lý
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
ĐHSP : Đại học sư phạm
ĐTB : Điểm trung bình
GD : Giáo dục
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
SGK : Sách giáo khoa
QLGD : Quản lý giáo dục
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh

MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, đất nước ta đang bước vào một thời kỳ phát
triển mới: thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường
định hướng XHCN, hướng tới kinh tế tri thức và mở rộng hội nhập quốc tế với nhiều thuận
lợi và khó khăn, thử thách phải vượt qua. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đó, Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định: “Lấy việc phát triển nguồn lực con người là yếu tố cơ
bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [46]. Đại hội lần thứ IX của Đảng cũng nhấn
mạnh: tiếp tục “phát huy nhân tố con người” và “tăng cường nguồn lực con người” để “từng
bước phát triển kinh tế tri thức” [21]. Bởi lẽ, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực cho
sự phát triển, đầu tư cho con người chính là tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển, là bảo
đảm vững bền cho sự phồn thịnh của mỗi quốc gia. Việc phát triển nguồn nhân lực là “chìa
khóa” quyết định thành công của giai đoạn cách mạng mới trên đất nước ta.
GD-ĐT có vị trí quan trọng để phát triển nguồn nhân lực. Giáo dục trong hệ thống
trường học với chủ thể là đội ngũ nhà giáo là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục. Hệ
thống giáo dục nước ta hiện nay có nhiều cấp học, ngành học được xây dựng chặt chẽ và
mang tính phát triển, đội ngũ nhà giáo là lực lượng nòng cốt thực hiện mục tiêu GD-ĐT, là
người xây dựng cho HS thế giới quan, nhân sinh quan tiến bộ, trang bị cho HS tri thức và
phương pháp tư duy khoa học, khả năng làm việc độc lập, sáng tạo. Vì vậy, vai trò của đội
ngũ nhà giáo rất quan trọng, công việc của họ sẽ để lại dấu ấn trong tương lai. Khi nói về
vai trò của đội ngũ nhà giáo, tại hội nghị giáo dục ở Australia năm 1993 các đại biểu đã đưa
ra nhận định: người GV sẽ là người có trách nhiệm làm thay đổi thế giới. Đảng ta cũng xác
định “GV là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh”. [46]
Nằm trong cấu trúc chung của hệ thống giáo dục quốc dân, các trường THPT là một
cấp học, một bộ phận hữu cơ của giáo dục phổ thông, là cầu nối giữa bậc tiểu học, THCS
với bậc đại học. Nếu giáo dục đại học là khâu trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là
nguồn nhân lực chất lượng cao tham gia quá trình CNH - HĐH đất nước, thì giáo dục THPT
là khâu chuẩn bị cho HS THPT – bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực tiếp tục học lên
hoặc đi vào cuộc sống lao động. Ở cấp học này, đội ngũ nhà giáo có vai trò rất quan trọng

trong việc đào tạo HS thành nguồn nhân lực có tri thức, có năng lực và phẩm chất, có đủ
điều kiện để tiếp cận bậc GD-ĐT cao hơn hoặc lao động ở một ngành nghề cụ thể khi chưa
có khả năng học tiếp. Nhưng hiện nay trong các trường THPT, “đội ngũ nhà giáo vừa thiếu
lại vừa thừa, một bộ phận nhỏ nhà giáo chưa đạt chuẩn đào tạo, một số thiếu năng lực giảng
dạy và tinh thần trách nhiệm [31]. “Đáng lo ngại là tác động tiêu cực của cơ chế thị trường
đã làm xói mòn phẩm chất của một số nhà giáo gây ảnh hưởng xấu đến uy tín người thầy
trong xã hội” [45]. Điều đó làm hạn chế việc thực hiện vai trò đào tạo nguồn nhân lực của
đội ngũ nhà giáo, là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thực trạng: nhiều HS
kiến thức lệch lạc, thiếu hiểu biết các vấn đề chính trị - xã hội, một bộ phận HS suy thoái về
đạo đức, lối sống; phần lớn HS sau khi tốt nghiệp THPT thiếu khả năng tự tìm kiếm việc
làm, chưa vững vàng trước những biến đổi phức tạp của cuộc sống. Chất lượng đào tạo ở
cấp học này chưa thực sự đáp ứng được mục tiêu đặt ra. Đặc biệt, vào thời điểm hiện nay
dấu hiệu một cuộc khủng hoảng GD-ĐT đã đến mức khiến xã hội phải lên tiếng.
Chính vì thế, phát triển đội ngũ nhà giáo được xem là giải pháp trọng tâm trong Chiến
lược phát triển giáo dục Việt Nam 2010-2020, trong đó công tác bồi dưỡng GV là một trong
những nhiệm vụ quan trọng được Bộ GD - ĐT đặt ra cho từng năm học. Tham gia hoạt
động đào tạo bồi dưỡng sẽ giúp cho GV thuận lợi khi làm việc với chương trình mới, có thái
độ tích cực và thích ứng với những thay đổi và thách thức của thời đại. Tổ chức bồi dưỡng
cho GV còn khuyến khích GV làm việc chăm chỉ, tích cực hơn để hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Trong những năm qua, cùng với cả nước, việc tổ chức hoạt động bồi dưỡng GV THPT
luôn được ngành giáo dục – đào tạo TP.HCM quan tâm. Nhiều hình thức và nội dung bồi
dưỡng được đưa vào chương trình bồi dưỡng cho GV THPT bước đầu đã thu được một số
kết quả đáng khả quan, điển hình là giáo dục THPT của TP.HCM luôn dẫn đầu cả nước về
chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, để chuẩn bị nguồn nhân lực cho TP.HCM trong thời kỳ mới,
thời kỳ hội nhập toàn cầu và cạnh tranh quốc tế, giáo dục TP.HCM cần có những cố gắng
vượt bậc để đáp ứng được đòi hỏi của xã hội. Vì vậy, đổi mới và nâng cao năng lực của đội
ngũ GV theo định hướng vươn tới các chuẩn mực quốc tế sẽ là yếu tố cốt lõi cho sự chuyển
mình của các trường phổ thông ở TP.HCM trong giai đoạn mới. Xuất phát từ những cơ sở lý
luận và thực tiễn trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng
giáo viên ở các trường Trung học phổ thông TP. Hồ Chí Minh”.

2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận, khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động bồi
dưỡng GV ở các trường THPT TP.HCM và đề tài đề xuất biện pháp quản lý hoạt động bồi
dưỡng GV, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng GV đáp ứng yêu cầu
của giáo dục trong xu thế hội nhập.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Khách thể: Công tác quản lý trường trung học phổ thông
- Đối tượng: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng GV ở các trường trung học phổ
thông TP.HCM
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng GV các trường THPT TP.HCM đã được thực
hiện và bước đầu đạt được một số kết quả. Tuy nhiên, công tác này vẫn còn một số hạn chế
và bất cập trong việc xây dựng kế hoạch, chương trình bồi dưỡng; hoạt động tổ chức, chỉ
đạo cũng như công tác kiểm tra, đánh giá sau đợt bồi dưỡng chưa phù hợp và hiệu quả hoạt
động bồi dưỡng chưa rõ nét. Nguyên nhân của thực trạng này có thể do chưa có các biện
pháp quản lý thật sự hiệu quả.
Vì vậy khi đánh giá đúng thực trạng và đề xuất biện pháp thiết thực thì sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng GV ở các trường THPT hiện nay.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động bồi dưỡng GV và quản lý hoạt động bồi
dưỡng GV.
2- Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng GV ở các trường THPT TP.HCM.
3- Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng GV ở các trường
THPT.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1.Cơ sở phương pháp luận

6.1.1. Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Quan điểm tiếp cận hệ thống - cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ
chặt chẽ giữa công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng GV với quản lý các hoạt động sư phạm
khác ở trường học đồng thời xem công tác quản lý nhà trường là một hệ thống, trong đó
quản lý hoạt động bồi dưỡng GV là một hệ thống con với các yếu tố hợp thành. Từ đó giúp
tìm hiểu chính xác thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng GV.
6.1.2. Quan điểm lịch sử - logic
Quan điểm lịch sử - logic giúp người nghiên cứu xác định phạm vi, không gian, thời
gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích
nghiên cứu đề tài, đồng thời nghiên cứu đối tượng trong quá trình phát triển của nó.
6.1.3. Quan điểm thực tiễn
Việc đề ra các biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động
bồi dưỡng GV THPT dựa trên việc khảo sát thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng GV các
trường THPT TP.HCM. Qua khảo sát, tìm ra những mặt mạnh, mặt yếu, những nguyên
nhân, hạn chế từ đó đề ra các biện pháp mang tính khả thi.
6.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
6.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
5TPhân tích và tổng hợp các văn bản, tài liệu, sách báo và các công trình nghiên cứu liên
quan đến đề tài làm cơ sở lý luận cho đề tài.
6.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a) Phương pháp quan sát nhằm thu thập thông tin qua việc quan sát hoạt động quản
lý bồi dưỡng năng lực sư phạm cho GV ở các trường THPT.
b) Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi nhằm thu thập thông tin, số liệu, tư liệu về
thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng GV qua điều tra đội ngũ CBQL và GV của 6 trường
THPT TP.HCM.
Các phiếu điều tra tập trung nghiên cứu về thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng
năng lực sư phạm cho GV ở các trường THPT TP.HCM, những ưu điểm, hạn chế và nguyên
nhân đồng thời khảo sát tính cần thiết và khả thi của hệ thống các biện pháp đề xuất.

c) Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia nhằm thu thập những thông tin đáng tin cậy từ
những chuyên gia, những nhà QLGD có kinh nghiệm về quản lý hoạt động bồi dưỡng GV.
6.2.3. Phương pháp thống kê toán học
Xử lý các kết quả điều tra khảo sát nhằm đánh giá thực trạng và định hướng nâng cao
hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng GV ở các trường THPT.
7. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực sư
phạm cho GV THPT với chủ thể quản lý là Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và Tổ Trưởng
chuyên môn các trường THPT.
Tiến hành khảo sát 6 trường thuộc 2 khu vực: khu vực trung tâm TP. HCM gồm trường THPT
chuyên Trần Đại Nghĩa, THPT Hoàng Hoa Thám, THPT Bùi Thị Xuân; khu vực ngoại ô TP. HCM
gồm trường THPT Thủ Đức, THPT Hiệp Bình, THPT Nguyễn Hữu Huân.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI
DƯỠNG GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Hoạt động bồi dưỡng giáo viên phổ thông
Trong hơn 30 năm qua, kể từ ngày đất nước thống nhất, việc đào tạo, bồi dưỡng GV
phục vụ sự nghiệp giáo dục nước nhà luôn sôi động, vấn đề số lượng, chất lượng đội ngũ
GV trong hệ thống giáo dục quốc dân được coi là vấn đề cấp thiết, mang tính thời sự nóng
bỏng và sau khi đã tạm ổn về số lượng, vấn đề chất lượng của đội ngũ GV được đặt lên
hàng đầu. Vấn đề này được coi trọng trong quá trình đào tạo và được quan tâm ngày càng
mạnh mẽ trong quá trình sau đào tạo, quá trình công tác của GV. Việc nâng cao chất lượng
bồi dưỡng GV được coi là bước thứ hai sau quá trình đào tạo đội ngũ này ở các trường lớp
chính quy, chính quy không tập trung. Việc tìm kiếm các giải pháp nâng cao chất lượng bồi
dưỡng GV luôn là mối quan tâm của các người làm công tác giáo dục, đặc biệt là các cấp
quản lý. Một số hoạt động bồi dưỡng GV trong thời gian qua được thực hiện như sau:
Từ năm 1993, Bộ GD-ĐT tổ chức các chương trình BDTX theo chu kỳ ba năm cho
GV THPT. Bộ GD-ĐT đã tổ chức được 3 chu kỳ, bắt đầu là chu kỳ BDTX 1993 -1996; chu
kỳ BDTX 1997 - 2000 và chu kỳ 2001 -2004.
Tháng 5/2006 Bộ GD-ĐT đã sớm xây dựng kế hoạch bồi dưỡng GV dạy lớp 10 theo
chương trình SGK mới theo quy trình 2 cấp: Bộ GD – ĐT giao các trường (khoa) ĐHSP
trực tiếp bồi dưỡng GV cốt cán các môn học của các địa phương và các Sở GD – ĐT sử
dụng đội ngũ GV cốt cán các môn học tổ chức bồi dưỡng cho tất cả GV thực hiện chương
trình SGK mới. Về nội dung bồi dưỡng GV, ngoài việc nắm vững chương trình SGK, còn
chú ý bồi dưỡng về đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá và sử
dụng thiết bị dạy học, phương pháp dạy các bài học có thí nghiệm, thực hành. Tuy nhiên,
trong đánh giá tình hình thực hiện phân ban THPT trong năm đầu tiến hành triển khai đại trà
của Viện chiến lược và Chương trình giáo dục khi nhận định về các điều kiện thực hiện dạy
học phân hóa, phần chất lượng bồi dưỡng có nêu: “còn một số bất cập trong công tác bồi
dưỡng GV nhưng nội dung tập huấn chưa thật sự đáp ứng nhu cầu của GV; phân phối chưa

hợp lý giữa thời gian bồi dưỡng kiến thức chuyên môn với thời gian giải quyết các thủ tục
hành chính; một số GV cốt cán đi tập huấn về nhìn chung chưa đủ năng lực để giải đáp đầy
đủ các khúc mắc cho đồng nghiệp” [1, tr.34].
Hiện nay, để nâng cao chất lượng giáo dục, ngành GD - ĐT đã đặt ra yêu cầu trong
công tác đào tạo, bồi dưỡng phải được thực hiện thường xuyên và coi đây là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm của mỗi cán bộ, GV trong toàn ngành. Vai trò của việc BDTX
cũng được Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển nhấn mạnh: Chương trình BDTX cho GV đã góp
phần thiết thực trong việc nâng cao chất lượng dạy – học, đáp ứng yêu cầu đổi mới nội
dung, chương trình, SGK mới cho giáo dục phổ thông. BDTX không chỉ là nhiệm vụ của cơ
quan QLGD các cấp, của cơ sở giáo dục mà còn là nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi GV [36].
Về định hướng phát triển, Chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho GV giai đoạn
2010-2015, Bùi Văn Quân, Phó Cục trưởng Cục Nhà giáo và CBQL cơ sở giáo dục (Bộ GD
- ĐT) cho biết: Chương trình tập trung tăng cường phát triển nghề nghiệp, chú trọng phát
triển năng lực thực hành cho GV. Bồi dưỡng theo nhu cầu của GV, cơ sở giáo dục và lấy
nhà trường làm đơn vị bồi dưỡng. Thiết lập các chương trình bồi dưỡng linh hoạt, mềm dẻo,
cung ứng đầy đủ, kịp thời hệ thống học liệu phục vụ công tác bồi dưỡng. Chuẩn hóa, xã hội
hóa và tăng cường hợp tác quốc tế trong công tác bồi dưỡng GV. Tăng cường phân cấp
trong công tác bồi dưỡng thường xuyên GV… [36].
Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy của GV và phương pháp học của HS thế kỷ 21,
Trần Thị Bích Liễu, Đại học Giáo dục – Đại học quốc gia Hà Nội cho rằng, GV nên thay
việc yêu cầu HS “Học những kiến thức này và làm như thế này” bằng “Học sáng tạo kiến
thức và cách làm”; dạy HS học nơi tìm kiếm thông tin thay cho việc dạy các em học cái gì
[36].
Nguyễn Hữu Ân, Trung tâm Nghiên cứu GD & BDGV Trường ĐHSP Huế đề xuất
việc thực hiện công tác BDTX nên được tiến hành thành 3 giai đoạn: giai đoạn 1, tập trung
cung cấp cho GV đầy đủ giáo trình, tài liệu bồi dưỡng. GV tự học, tự nghiên cứu, chú trọng
tổ chức học tập theo môn học, học trong từng tập thể sư phạm… Giai đoạn 2, mở các lớp
bồi dưỡng tập trung với thời gian hợp lý trong năm học để giảng viên hệ thống hóa kiến
thức, cùng trao đổi và giải đáp thắc mắc của GV, giảng sâu thêm một số vấn đề của chuyên
đề bồi dưỡng. Giai đoạn 3, đánh giá hoàn thành học phần, cấp chứng chỉ bồi dưỡng… [36].

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét