LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "giải pháp thích hợp để kiểm soát lạm phát góp phần thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2001 – 2010 mà đại hội ix của đảng đã đề ra": http://123doc.vn/document/1053146-giai-phap-thich-hop-de-kiem-soat-lam-phat-gop-phan-thuc-hien-thang-loi-chien-luoc-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-10-nam-2001-2010-ma-dai-hoi-ix-cua-dang-da.htm
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Chỉ số giá bán lẻ giai đoạn 1976 – 1980 Trang 23
Bảng 2.2 Mức tăng GDP và TNQD thời kỳ 1977 – 1980 Trang 23
Bảng 2.3 Chỉ số giá bán lẻ giai đoạn 1981 – 1988 Trang 23
Bảng 2.4 Tốc độ tăng giá giai đoan 1989 – 1995 Trang 24
Bảng 2.5 Tốc độ tăng giá giai đoạn 1996 – 2000 Trang 25
Bảng 2.6 Vốn đầu tư phát triển phân theo thành phần kinh tế:
so sánh qua hai năm 2001 năm 2002 Trang 25
Bảng 2.7 Tổng mức bàn lẻ hàng hoá và dòch vụ tiêu dùng giai đoạn
1996 – 2002 Trang 26
Bảng 2.8 Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các q giai đoạn 1996 – 2006
Trang 27
Bảng 2.9 Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội chủ yếu
năm 2004 Trang 27
Bảng 2.10 Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội chủ yếu
năm 2006 Trang 28
Bảng 2.11 Chỉ số giá tiêu dùng qua các tháng trong năm 2006 Trang 28
Bảng 2.12 Lạm phát và tăng trưởng kinh tế giai đoạn
1996-2000 Trang 29
Bảng 2.13 Tỷ lệ lạm phát trung bình các giai đoạn Trang 31
Bảng 2.14 Lạm phát, thất nghiệp giai đoạn 1996-2006 Trang 32
Bảng 2.15 Lạm phát và cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 1996-
2006 Trang 34
Bảng 2.16 Một số chỉ số xếp hạng của Việt Nam theo đánh giá của WFE
so với một vài nước trong khu vực(tính trên 104 quốc gia được
khảo sát) Trang 37
Bảng 2.17 Tốc độ huy động vốn và cho vay giai đoạn
2002-2006 Trang 39
Bảng 2.19 Diễn biến lạm phát từ năm 2003-2006 Trang 43
Bảng 2.20 Diễn biến giá một số mặt hàng trên thế giới,
2003-2006 Trang 44
Bảng 2.21 Diễn biến giá cả một số mặt hàng của Việt Nam,
2004-2006 Trang 44
6
Bảng 2.22 Điều chỉnh thuế một số mặt hàng, 2005-2006 Trang 44
Bảng 2.23 Điều hành CSTT của NHNN 205-2006 Trang 46
Bảng 3.1 Quyền số giá tiêu dùng năm 2000 Trang 51
Bảng 3.2 Lãi suất ngân hàng nào cao nhất Trang67
Bảng PL1 Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua cáctháng trong năm 2001
Trang75
Bảng PL2 Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các tháng trong năm 2002
Trang76
Bảng PL3 Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các tháng trong năm 2003
Trang77
Bảng PL4 Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các tháng trong năm 2004
Trang78
Bảng PL5 Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các tháng trong 6 tháng đầu
năm 2005 Trang79
Bảng PL6 Tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ 1986 đến
2006 Trang80
Bảng PL7 Kết qủa phân tích hồi quy giữa lạm phát và tăng trưởng kinh
tế theo phương pháp bình phương nhỏ nhất Trang 82
Bảng PL8 Kết qủa phân tích hồi quy giữa lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp
theo phương pháp bình phương nhỏ nhất Trang 83
Bảng PL9 Kết qủa phân tích hồi quy giữa lạm phát và tỷ lệ sử dụng thời
gian lao động ở nông thôn theo phương pháp bình phương nhỏ
nhất Trang 84
BảngPL10 Những đòa chỉ thất thoát, lãng phí Trang 85
BảngPL11 Tốc độ tang giá tiêu dùng, giá lương thực thực phẩm từ 1990-
2006 Trang 88
BảngPL12 Xác đònh lạm phát cơ bản bằng phương pháp điều chỉnh trung
bình Trang 89
7
MỞ ĐẦU
1/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì lạm phát là
một căn bệnh kinh niên của mọi nền kinh tế hàng hoá – tiền tệ; nó không
có bản chất giai cấp mà chỉ có bản chất kinh tế. Nó có tính thường trực,
nếu không thường xuyên kiểm soát, không có những giải pháp chống lạm
phát thường trực, đồng bộ và hữu hiệu thì lạm phát có thể xảy ra ở bất cứ
nền kinh tế hàng hoá nào với bất kỳ chế độ xã hội nào. Các nhà kinh tế
này cho rằng biểu hiện của lạm phát là: khi mức chung của giá cả hàng
hoá và chi phí sản xuất đồng thời tăng lên một cách phổ biến trong một
khoảng thời gian đủ dài để nhận rõ xu hướng này
1
. Tác giả hoàn toàn
đồng tình với quan điểm này.
Có thể nói lạm phát luôn là một vấn đề làm đau đầu các nhà hoạch
đònh chính sách kinh tế, và nhất là trong tình hình hiện nay, Việt Nam đã
trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới( WTO) thì
vấn đề này lại càng được các nhà hoạch đònh chính sách quan tâm nhiều
hơn. Trong năm 2004, chỉ số giá tiêu dùng của nước ta tăng 9,5 %, có
người nói chúng ta lên cơn sốt lạm phát và có người nói chúng ta chưa lạm
phát mặc dù chỉ số giá này đã tăng vượt quá ngưỡng mục tiêu đề ra ban
đầu (4- 5%), đến 2005 thì chỉ số giá tiêu dùng lại được khống chế chỉ còn
8,4% bằng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, năm 2006 chỉ số giá tiêu dùng
được khống chế ở mức 6,6% thấp hơn 1,6% so với tốc độ tăng trưởng kinh
tế. Diễn biến tình hình thay đổi của chỉ số giá tiêu dùng nước ta đã làm cho
các nhà hoạch đònh, nhà nghiên cứu phải tốn nhiều công sức để khống chế
nó.
Vậy nền kinh tế nước ta trong năm 2004, 2005, 2006 và những năm
trước đó có lạm phát hay không, và nếu có là bao nhiêu, là cao hay thấp,
mức lạm phát đó có ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế, những nguyên
nhân nào gây ra lạm phát ở nước ta, là những vấn đề cần phải làm sáng tỏ,
để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp thích hợp để kiểm soát lạm phát
góp phần thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10
năm 2001 – 2010 mà Đại hội IX của Đảng đã đề ra.
8
Lạm phát là một vấn đề phức tạp, có liên quan đến nhiều lónh vực,
nhưng với mong muốn bằng những kiến thức đã học được để đưa ra những
giải pháp, mặc dù có những giải pháp mới chỉ dừng lại ở những ý tưởng,
1
Website của NHNN
nhưng đây cũng là những giải pháp nhằm kiểm soát lạm phát được tốt hơn
và góp phần vào mục tiêu nêu trên nên tác giả quyết đònh chọn
giải pháp để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam làm đề tài luận văn tốt
nghiệp cao học kinh tế.
2/ ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU
Xuất phát từ lý do trên, đề tài đi vào nghiên cứu những vấn đề sau
:
Thứ nhất: Làm rõ những quan điểm, lý luận về lạm phát, từ đó
xem những quan điểm nào được vận dụng phổ biến và phù hợp với nền
kinh tế Việt Nam.
Thứ hai: Khái quát lại tình hình lạm phát của Việt Nam từ sau khi
thống nhất(1976) đến nay (2006), đặc biệt là giai đoạn 2001 – 2006.
Thứ ba: Chỉ ra được ảnh hưởng của lạm phát tới 3 biến số kinh tế
vó mô quan trọng còn lại trong tứ giác kinh tế, đó là : Tăng trưởng kinh tế,
tỷ lệ thất nghiệp và cán cân thanh toán (đối với các biến số khác mà lạm
phát có mối quan hệ mật thiết như lãi suất, tỷ giá hối đoái … trong phạm vi
luận văn chưa đi vào nghiên cứu). Đồng thời, bước đầu xem xét mối quan
hệ hồi quy giữa lạm phát với 3 biến số trên và đi tìm một ngưỡng lạm phát
mà ở đó khi lạm phát vượt qua thì có ảnh hưởng không tốt tới tăng trưởng
kinh tế.
Thứ tư: Trên cơ sở diễn biến tình hình lạm phát thực tế rút ra được
những nguyên nhân cơ bản tác động tới lạm phát ở nước ta nhằm đề xuất
các giải pháp kiểm soát lạm phát. Ngoài những nguyên nhân cơ bản được
phân tích trong bài, luận văn cũng bước đầu hệ thống nguyên nhân gây ra
lạm phát ở nước ta theo nhiều hướng khác nhau.
Thứ năm: Xem xét lại cách đo lường lạm phát ở nước ta hiện nay,
từ đó rút ra những hạn chế để đề xuất một cách đo lường tốt hơn.
9
Thứ sáu: Đề xuất các giải pháp nhằm kiểm soát lạm phát để ổn
đònh kinh tế vó mô giai đoạn 2007 – 2010, góp phần thực hiện thắng lợi
chiến lược phát triển kinh tế – xã gội 10 năm 2001 – 2010.
3/ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI :
Để giải quyết những vấn đề đặt ra ở trên, luận văn cần trả lời được
những câu hỏi sau:
Một là: Nền kinh tế Việt Nam có bò lạm phát hay không ? Trong
đó tập trung vào trả lời cho giai đoạn 2001 – 2006, nổi lên là năm 2004,
mà cho đến nay vẫn còn hai luồng ý kiến trái ngược nhau.
Hai là: Lạm phát có ảnh hưởng như thế nào đối với tăng trưởng
kinh tế? Tỷ lệ thất nghiệp và cán cân thanh toán? Phương trình hồi quy xác
đònh mức độ tương quan giữa lạm phát với các nhân tố trên như thế nào ?
Bøa là: Có tồn tại một ngưỡng lạm phát ở nước ta hay không? Nếu
có thì ngưỡng đó là bao nhiêu ?
Bốn là: Những nguyên nhân chủ yếu nào gây ra lạm phát ở Việt
Nam thời gian qua ?
Năm là: Cách tính lạm phát ở Việt nam hiện nay có phù hợp với
điều kiện kinh tế – xã hội ở nước ta nữa hay không ? Nếu không thì nên
chọn cách tính nào khác (bước đầu đối chiếu với cách tính lạm phát của
một số nước trên thế giới). Nếu còn phù hợp thì có phải điều chỉnh gì
không ?
Sáu là: Lạm phát ở Việt Nam có chòu ảnh hưởng bới những biến
động kinh tế khu vực và thế giới hay không ?
4/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
4.1/ Phương pháp luận :
Do vấn đề lạm phát có liên quan mật thiết đến nhiều vấn đề khác
như tỷ giá, lãi suất, tăng trưởng kinh tế, thất nghiệp, cán cân thanh toán …
thuộc nhiều lónh vực khác nhau như tài chính Nhà nước, tín dụng ngân
hàng … nên khi nghiên cứu lạm phát phải đặt trong mối quan hệ tương hỗ
qua lại giữa các yếu tố trên, giữa các lónh vực trên. Do vậy, phương pháp
luận chủ đạo của luận văn là vận dụng phép duy vật biện chứng.
Tuy nhiên, trong phạm vi một luận văn, để đơn giản vấn đề
nghiên cứu, luận văn chỉ đi vào nghiên cứu sự tác động của lạm phát lên
10
các yếu tố khác hoặc tác động của các nhân tố đến lạm phát, tức là nghiên
cứu sự tác động một chiều và trong khi nghiên cứu yếu tố nào thì các yếu
tố khác được giả đònh là không đổi .
Tuy nhiên, vận dụng phương pháp nghiên cứu như thế nào đi nữa
thì cũng không thể xa rời, thoát ly khỏi thực tiễn. Do vậy, phải căn cứ vào
tình hình thực tiễn kinh tế - xã hội và hướng phát triển kinh tế – xã hội
Việt Nam. Do vậy, phương pháp luận của luận văn là kết hợp lý luận và
thực tế.
4.2/ Phương pháp:
Trên cơ sở các phương pháp luận chủ đạo, trước tiên luận văn đi
vào thu thập các số liệu về lạm phát, tăng trưởng kinh tế và các số liệu
cần thiết khác cho nghiên cứu. Do vậy, phương pháp nghiên cứu của luận
văn là phương pháp nghiên cứu tại bàn, phương pháp thống kê, sưu tầm
các số liệu được phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc
biệt là từ các bộ, ban, ngành. Công việc này tiến hành qua 2 bước như sau :
+ Thống kế các số liệu cần thiết cho nghiên cứu như tỷ lệ lạm
phát, tỷ lệ thất nghiệp, tốc độ tăng trưởng kinh tế … qua các năm từ 1976
đến 2006.
+ Tuỳ vào mục đích nghiên cứu mà trích dẫn số liệu theo từng giai
đoạn khác nhau.
Dựa trên số liệu thống kê có được, luận văn sử dụng các phương
pháp phân tích, tổng hợp, hồi quy, để xử lý và biểu diễn số liệu có được
theo các nội dung cần thiết. Riêng trong phương pháp hồi quy, tác giả chọn
sai số cho phép là 5% (độ tin cậy đạt 95% trong các phân tích). Nếu phân
tích hồi quy cho kết quả nhưng không đảm bảo độ tin cậy thì kết luận kết
quả hồi quy không có ý nghóa về mặt thống kê. Cũng trong phương pháp
hồi quy, để đơn giản dãy số phân tích nhưng vẫn đảm bảo độ tin cậy, tác
giả chọn số liệu trong vòng 11 năm 1996 đến 2006 để chạy hàm hồi quy.
Tuy nhiên, chuỗi số liệu có thể mở rộng ra hoặc thu hẹp lại trong từng tình
huống nghiên cứu.
Để có thể thấy được vấn đề nghiên cứu có thể thay đổi như thế
nào qua thời gian, luận văn sử dụng phương pháp so sánh – đối chiếu
nhằm xem xét vấn đề trong mối tương quan, so sánh đối chiếu giữa những
thời kỳ khác nhau.
11
Ngoài ra, để mổ xẻ vấn đề nghiên cứu một cách tỷ mỉ, luận văn sử
dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành : Xem xét, nghiên cứu vấn đề
dưới nhiều góc độ, từ nhiều ngành khác nhau.
Do bản chất nghiên cứu khoa học bao giờ cũng có tính kế thừa,
nên trong luận văn có vận dụng kết quả nghiên cứu của một số chuyên gia
về các vấn đề có liên quan.
Cuối cùng, một phương pháp khác không kém phần quan trọng là
phương pháp chuyên gia : Tìm hiểu vấn đề thông qua hình thức thu thập ý
kiến của những người có nhiều kinh nghiệm (đặc biệt là các thầy cô giảng
viên), am tường trên từng lónh vực để từ đó rút ra những kết luận xác thực.
5/ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI :
Trong bối cảnh khu vực và thế giới có nhiều bất ổn do chiến
tranh, xung đột, thiên tai, đặc biệt là nạn khủng bố thì Việt Nam trong
những năm gần đây được xem là điểm đến an toàn nhất, có tình hình
chính trò ổn đònh nhất. Nếu như chúng ta tạo được một sự ổn đònh nữa về
mặt kinh tế thì khả năng thu hút đầu tư nước ngoài là rất lớn, nhưng trước
hết là tạo được một tâm lý ổn đònh trong nước, khuyến khích mọi tầng lớp
dân cư an tâm làm ăn lâu dài vì quốc tế dân sinh, từ đó góp phần vào việc
phát triển kinh tế một cách ổn đònh, bền vững.
Để tạo được một sự ổn đònh về kinh tế, cần phải thực hiện nhiều
giải pháp đồng bộ trên mọi lónh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Trong
đó, một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu đặt ra là phải ổn đònh nền
tài chính tiền tệ của quốc gia mà đặc biệt là vấn đề kiểm soát lạm phát, ổn
đònh giá cả tiền tệ để tăng trưởng ổn đònh, bền vững và có hiệu quả.
Việt Nam đã chính thức là thành viên thứ 150 của WTO( tổ chúc
thương mại quốc tế). Như vậy, sau khu vực mậu dòch tự do Đông nam Á
(AETA), hiệp đònh thương mại Việt – Mỹ (BTA) rồi đến WTO, đến hội
nghò lãnh đạo kinh tế APEC lần thứ 14 tổ chức tại Việt Nam đã thành công
tốt đẹp, khép lại Năm APEC Việt Nam 2006 đầy sôi động, với những
thành qủa đáng tự hào. Giới truyền thông quốc tế cho rằng, đây là bước
đột phá cả về ngoại giao và kinh tế của Việt Nam, góp phần quan trọng
vào việc quảng bá tới cộng đồng quốc tế về hình ảnh một đất nước Việt
Nam năng động, thân thiện và đang phát triển mạnh mẽ. Như vậy mức độ
hòa nhập vào nền kinh tế thế giới của nước ta rộng hơn bao giờ hết, mà
12
như thế thì nền kinh tế của nước ta cũng phải gánh chòu những tác động
của kinh tế khu vực và thế giới ở một mức độ cao hơn bao giờ hết. Chỉ mới
có sự lên xuống của giá dầu, giá vàng, giá đôla Mỹ… trong thời gian qua
đã khiến cho chỉ số giá tiêu dùng của nước ta cũng dao động theo. Có
nhiều biến số kinh tế vó mô cần thiết phải dao động lên xuống như một
điện tâm đồ. Như tỷ giá chẳng hạn, nhưng riêng đối với tỷ lệ lạm phát thì
nếu nó thường xuyên thay đổi và dao động ở biên độ lớn, tức là mọi mặt
của đời sống kinh tế – xã hội đều dao động theo, tính không ổn đònh gia
tăng, bất ổn luôn là mầm móng cho mọi cuộc khủng hoảng.
Do vậy, đề tài đi vào nghiên cứu lạm phát với mong muốn nắm
vững hơn về diễn biến tình hình lạm phát ở Việt Nam thời gian qua và
những nhân tố tác động tới lạm phát để từ đó kiểm soát lạm phát tốt hơn,
góp phần tạo nên một sự ổn đònh về kinh tế, cùng với sự ổn đònh chính trò
giúp chúng ta thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt
ra.
Với những mục đích như trên, đề tài mang ý nghóa thiết thực đối
với công cuộc phát triển kinh tế hiện nay.
Toàn bộ nội dung của đề tài được thể hiện trong 3 chương :
Chương I
: LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT
Chương II
: LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA
Chương III : GIẢI PHÁP ĐỂ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
13
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT
1.1/ CÁC QUAN ĐIỂM VỀ LẠM PHÁT – ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT
1.1.1/ Các quan điểm về lạm phát
Cho đến thời điểm này, nhiều nhà kinh tế học đã đưa ra các khái
niệm về lạm phát. Song, chúng ta vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn về
lạm phát. Có người tiếp cận lạm phát theo những nguyên nhân của nó, có
người tiếp cận lạm phát theo hướng tập trung vào những ảnh hưởng của
lạm phát. Có thể kể ra một số quan điểm về lạm phát rất khác nhau như
sau
1
:
Thứ nhất: Lạm phát là sự tăng lên liên tục của giá cả. Theo quan điểm
này thì không kể giá cả tăng lên do nguyên nhân nào đều là lạm phát.
Thứ hai: Lạm phát là việc phát hành tiền giấy vượt quá mức đảm
bảo, vì vậy gây ra sự mất giá của tiền giấy làm cho giá cả hàng hóa bò
đẩy lên cao.
Thứ ba: Lạm phát là sự mất cân đối nghiêm trọng giữa tiền và hàng
trong nền kinh tế, sự mất cân đối với tiền lớn hơn hàng khiến cho giá cả
tăng lên ở mọi lúc mọi nơi.
Như vậy, dù khác nhau về quan điểm nhìn nhận, nhưng chúng ta
thấy các quan điểm đềâu đề cập đến một khía cạnh đó là sư tăng lên của
giá cả là một trong những biểu hiện cơ bản của lạm phát. Do vậy, hiện nay
gần như các nhà kinh tế khi xem lạm phát chủ yếu thiên về những biểu
hiện của lạm phát, họ xem lạm phát là hiện tượng mức giá cả chung tăng
lên. Sự gia tăng này diễn ra với tốc độ cao và kéo dài.
1.1.2/ Đo lường lạm phát
Hiện nay, có nhiều phương pháp và mô hình dùng để tính lạm phát
cơ bản như :
- Phương pháp loại trừ (Exclusion method)
- Phương pháp điều chỉnh trung bình và phương pháp quyền số
điểm giữa.
- Mô hình cấu trúc VAR (Vector Autoregresion).
- Mô hình tham số cho việc dự đoán lạm phát cơ bản và diễn dòch
1
Lý thuyết tài chính – tiền tệ năm 1999. TS . Nguyễn Đức Thanh
quy trình lạm phát.
14
- Mô hình tham số của quy trình lạm phát.
Mỗi phương pháp, mô hình có những ưu điểm, nhược điểm riêng
và khó khăn riêng. Trong đó, phương pháp điều chỉnh trung bình được
công nhận rộng rãi và dễ áp dụng(phụ lục 12: xác đònh lạm phát cơ bản
bằng phương pháp điều chỉnh trung bình). Muốn sử dụng phương pháp này
trước hết cần thu thập thông tin về sự thay đổi giá cả hàng tháng của từng
mặt hàng có trong rổ hàng hóa. Để có được thông tin này, hiện nay ở Việt
Nam chỉ có Tổng cục thống kế mới nắm được. Do vậy, trong thời gian tới
Tổng cục thống kê và NHNN cần thu thập thông tin để tính lạm phát cơ
bản theo phương pháp điều chỉnh trung bình hoặc nghiên cứu sử dụng
phương pháp hoặc mô hình thích hợp để tính lạm phát cơ bản.
1.2/ CÁC LOẠI LẠM PHÁT
Căn cứ vào tốc độ lạm phát, lạm phát được chia thành 3 loại như
sau :
- Lạm phát vừa phải.
- Lạm phát phi mã.
- Siêu lạm phát.
1.2.1/ Lạm phát vừa phải (Reasonable Inflation)
Lạm phát vừa phải là lạm phát ở mức 1 con số nguyên (tỷ lệ tăng
giá cả hàng hóa trong khoảng 10% trở lại). Ở mức độ lạm phát vừa phải,
giá cả tăng chậm dao động xung quanh mức tăng tiền lương. Trong điều
kiện như thế, giá trò tiền tệ không biến động nhiều, tạo điều kiện thuận lợi
cho kinh tế phát triển.
Khi giá cả tăng vượt ra khỏi mức độ hợp lý trên, người ta nói lạm
phát đang bước vào giai đoạn tăng cao.
1.2.2/ Lạm phát phi mã
Lạm phát cao là lạm phát ở mức độ 2 con số (dưới 100% năm),
mức độ tăng của giá cả hàng hóa lúc này cũng giống như ” Một con ngựa
bất kham đang tung vó để chạy”. Khi lạm phát phi mã xảy ra, sản xuất bò
đình trệ, nền tài chính bò phá hoại và nếu không có biện pháp thích hợp để
“ghìm chân chú ngựa” thì nền kinh tế sẽ dễ dàng rơi vào tình trạng siêu
lạm phát.
1.2.3 Siêu lạm phát (Hyperinflation)
Siêu lạm phát là lạm phát xảy ra ở mức độ lớn hơn lạm phát phi
mã. Siêu lạm phát thường xảy ra do các biến cố lớn dẫn đến đảo lộn trật tự
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét