LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Sử dụng bản đồ tư duy trong Hoá học 10 docx": http://123doc.vn/document/1050316-tai-lieu-su-dung-ban-do-tu-duy-trong-hoa-hoc-10-docx.htm
tập, công tác sao cho hiệu quả nhất mà lại mất ít thời gian.
Từ cơ sở thực tiễn và khoa học nêu trên, chúng tôi chọn tên cho giải
pháp khoa học giáo dục của mình là “ Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học
Hoá học lớp 10 ’’
2. Nội dung
2.1. Hướng dẫn chung
2.1.1. Các bước thực hiện một bản đồ tư duy
- Bước 1 : Vẽ chủ đề ở trung tâm.
Bước đầu tiên trong việc tạo ra một BĐTD là vẽ chủ đề ở trung tâm trên
một mảnh giấy (đặt nằm ngang).
Quy tắc vẽ chủ đề :
+ Vẽ chủ đề ở trung tâm để từ đó phát triển ra các ý khác.
+ Có thể tự do sử dụng tất cả màu sắc mà bạn thích.
+ Không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì chủ đề
cần được làm nổi bật dễ nhớ.
+ Có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng.
- Bước 2 : Vẽ thêm các tiêu đề phụ.
Bước tiếp theo là vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm.
Quy tắc vẽ tiêu đề phụ :
+ Tiêu đề phụ nên được viết bằng CHỮ IN HOA nằm trên các nhánh
dày để làm nổi bật.
+ Tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm.
+ Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụ
khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng.
- Bước 3 : Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết
hỗ trợ.
Quy tắc vẽ ý chính và chi tiết hỗ trợ :
+ Chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh.
5
+ Bất cứ lúc nào có thể, bạn hãy dùng những biểu tượng, cách viết tắt
để tiết kiệm không gian vẽ và thời gian. Mọi người ai cũng có cách viết tắt
riêng cho những từ thông dụng. Bạn hãy phát huy và sáng tạo thêm nhiều
cách viết tắt cho riêng bạn.
Mỗi từ khóa - hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên
nhánh. Trên mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa. Việc này giúp cho
nhiều từ khóa mới và những ý khác được nối thêm vào các từ khóa sẵn có
một cách dễ dàng (bằng cách vẽ nối ra từ một khúc). Tất cả các nhánh của
một ý nên tỏa ra từ một điểm. Tất cả các nhánh tỏa ra từ một điểm (thuộc
cùng một ý) nên có cùng một màu. Chúng ta thay đổi màu sắc khi đi từ một
ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn.
Ví dụ :
- Bước 4 : Ở bước cuối cùng này, hãy để trí tưởng tượng của bạn bay
bổng. Bạn có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm
nổi bật, cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ của bạn tốt hơn.
2.1.2. Quá trình hướng dẫn HS xây dựng bản đồ tư duy.
- Bước 1: Trước hết GV phải cho HS làm quen với BĐTD. Bởi vì thực
tế cho thấy rằng rất nhiều HS cũng chưa biết BĐTD là cái gì, cấu trúc ra
sao và vẽ như thế nào, vì thế GV trước hết cần phải cho HS làm quen và
giới thiệu về BĐTD cho HS. Giáo viên nên giới thiệu cho HS về nguồn
gốc, ý nghĩa hay tác dụng của việc sử dụng BĐTD trong học tập môn Hoá
học
Giáo viên có thể đưa ra một số BĐTD sau đó yêu cầu HS diễn giải,
thuyết trình về nội dung của BĐTD theo cách hiểu riêng của mình. Với
việc thực hiện bước này sẽ giúp HS bước đầu làm quen và hiểu về BĐTD.
6
Ví dụ : Trong bài ôn tập đầu năm GV sẽ đưa ra hệ thống hoá các khái niệm
về chất yêu cầu HS diễn giải sơ đồ
- Bước 2: Sau khi đã làm quen với BĐTD giáo viên có thể giao cho HS
hoặc cùng HS xây dưng lên một BĐTD ngay tại lớp với các bài ôn tập, hệ
thống hóa kiến thức
Ví dụ : Trong bài ôn tập đầu năm GV cùng HS phân loại các hợp chất vô
cơ đã học trong chương trình lớp 9
- Bước 3 : Sau khi HS vẽ xong bản đồ tư duy, giáo viên có thể để HS
tự trình bày ý tưởng về bản đồ tư duy mà mình vừa thực hiện được.
7
2.1.3. Những điều cần tránh khi ghi chép trên bản đồ tư duy
- Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng.
- Ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết.
- Dành quá nhiều thời gian để ghi chép.
2.2. Sử dụng bản đồ tư duy trong việc chuẩn bị bài của học sinh và
dạy bài mới của giáo viên.
2.2.1. Nhiệm vụ của học sinh chuẩn bị bài ở nhà.
Giáo viên định hướng cho HS chuẩn bị bài ở nhà bằng cách lập một
BĐTD về bài học, những đề mục sẽ có trong bài học mới. Điều này sẽ bắt
buộc HS phải đọc bài và nghiên cứu bài trước, giúp HS nắm được một cách
khái quát những điều sẽ có trong bài học mới
Ví dụ : Trước khi học bài “ Cấu tạo vỏ nguyên tử “ GV yêu cầu HS về
vẽ một BĐTD về các đề mục có trong bài.
2.2.2. Sử dụng bản đồ tư duy khi vào tiết học mới.
Giáo viên giới thiệu bài mới và vẽ chủ đề chính của bài học lên bảng
bằng một hình vẽ bất kì trên bảng của lớp, cho HS ngồi theo nhóm thảo
luận BĐTD của mỗi HS đã chuẩn bị trước ở nhà đối với BĐTD của các bạn
trong nhóm.
Giáo viên đặt câu hỏi chủ đề nội dung chính hôm nay có mấy nhánh
lớn cấp số 1 (các đề mục có trong bài) và gọi HS lên bảng vẽ nối tiếp chủ
đề, chia thành các nhánh lớn trên bảng có ghi chú thích tên từng nhánh lớn.
8
Sau khi HS vẽ xong các nhánh lớn cấp số 1, GV đặt câu hỏi tiếp ở
nhánh thứ nhất có mấy nhánh nhỏ cấp số 2 HS sẽ hoàn thành nội dung
BĐTD của bài học mới ngay tại lớp. Học sinh tự chỉnh sửa điều chỉnh bổ
sung những phần còn thiếu vào BĐTD của từng cá nhân.
Ví dụ 1 : Khi học bài “ Cấu tạo vỏ nguyên tử “ ( tiết 7 theo phân phối
chương trình ), sau khi HS vẽ xong nhánh cấp 1, GV sẽ sử dụng hệ thống
câu hỏi để triển khai kiến thức và hoàn thiện BĐTD của bài học :
+ Với mẫu hành tinh nguyên tử, các nhà khoa học Rơ-dơ-pho, Bo, Zom-
mơ-phen đã xác định các electron chuyển động quanh hạt nhân như thế
nào?
+ Ngày nay, dưới ánh sáng của khoa học hiện đại sự chuyển động của
các electron quanh hạt nhân đã được nhìn nhận như thế nào?
+ Vỏ nguyên tử được chia thành các đơn vị tổ chức nào ? …
Sơ đồ minh hoạ
Ví dụ 2 : Khi học bài “ Sự biến đổi tuần hoàn tính chất của các
nguyên tố hoá học. Định luật tuần hoàn “ sau khi GV làm rõ một số khái
niệm về tính kim loại - tính phi kim sẽ yêu cầu HS chia nhóm vẽ BĐTD
bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các em để các em có thể vẽ tiếp các nhánh
9
con và bổ sung dần các ý nhỏ ( nhánh con cấp 2, cấp 3…), sau đó cho các
nhóm lên trình bày trước lớp để các HS khác bổ sung. Giáo viên kết luận
qua đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên
nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của HS.
Sơ đồ minh hoạ
Ví dụ 3 : Khi học bài “ Clo “ GV có thể kết hợp với BĐTD đã vẽ
trong bài “khái quát nhóm halogen “ và thông qua hệ thống câu hỏi để xây
dựng BĐTD cho bài học mới, khi đó việc tiếp thu kiến thức mới của HS trở
nên logic và khái quát hơn
10
Sơ đồ minh hoạ bài “ Khái quát nhóm halogen ”
Sơ đồ minh hoạ bài “ Clo ”
11
Sau mỗi bài học, GV hướng dẫn, gợi ý để HS tự hệ thống kiến thức
trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ BĐTD. Mỗi bài học
có thể được vẽ trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành tập. Việc làm này sẽ
giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ
dàng.
2.3. Sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy bài luyện tập.
Qua thực tế giảng dạy bộ môn chúng tôi thấy rằng loại bài luyện tập là
rất quan trọng nhằm củng cố, hệ thống hóa và khắc sâu kiến thức đồng thời
rèn luyện kỹ năng vận dụng giải bài tập hóa học. Cấu trúc bài luyện tập ở
SGK có 2 phần :
- Phần 1 : Kiến thức cần nhớ
- Phần 2 : Bài tập
Cách viết của SGK ở phần 1 thường là hệ thống lại các kiến thức theo
kiểu hàng ngang nếu GV không biết vận dụng phương pháp tích cực thì
dạy phần này tương đối tẻ nhạt, đơn thuần GV ra câu hỏi HS trả lời, hiệu
quả cách dạy này không cao.
Khi sử dụng BĐTD để hệ thống hóa các kiến thức của một chương lên
trên một tờ giấy trong đó thể hiện đầy đủ các nội dung kiến thức và được
đặt trong mối liên hệ của chúng nên HS dễ nhớ và có điều kiện nhớ lâu.
Để dạy phần 1 GV có hai phương pháp để triển khai :
+ Cho HS lập một BĐTD ở nhà về nội dung kiến thức cần nhớ, khi
dạy phần này GV tổ chức cho HS nhận xét một vài bản đồ để chọn ra bản
đồ hoàn chỉnh nhất sau đó GV có thể bổ sung ý kiến của mình vào để có
một bản đồ chuẩn dùng cho HS nắm các kiến thức của bài học .
+ Giáo viên đưa ra các từ khoá kiến thức để HS triển khai nội dung.
Sau đây là một số bản đồ tư duy chúng tôi đã cho học sinh xây dựng
trong tiết luyện tập :
12
Bài 6 : Luyện tập cấu tạo vỏ nguyên tử
Bài 11 : Luyện tập bảng tuần hoàn, sự biến đổi tuần hoàn cấu hình e
nguyên tử và tính chất của các nguyên tố hoá học
13
Bài 34 : Luyện tập Oxi – Lưu huỳnh
3. Quá trình thực hiện và hiệu quả của giải pháp .
3.1. Quá trình thực hiện .
Trong năm học 2011 - 2012, chúng chúng tôi đã thực hiện giải pháp
trên với các lớp 10A3, 10A4, 10A6, phân công hai đồng chí giảng dạy hai
bài để lấy kết quả thực tế :
- Đ/c Đặng Thị Nguyệt dạy “ Bài 6: luyện tập: cấu tạo vỏ electron của
nguyên tử ”
- Đ/c Bùi Minh Thắng dạy “ Bài 22: clo ”
- Đ/c Trần Tuyết Nga đánh giá lấy kết quả
Dưới đây là hai giáo án dạy.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét