LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "đôi nét về công ty cổ phần sữa việt nam vinamilk.": http://123doc.vn/document/1052538-doi-net-ve-cong-ty-co-phan-sua-viet-nam-vinamilk.htm
hàng Việt Nam chất lượng cao và TOP FIVE của 100 thương hiệu hàng đầu
Việt Nam cùng nhiều danh hiệu cao quý khác.
Phần 2: PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
A- PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ (MÔI TRƯỜNG TỔNG THỂ)
I_Bối cảnh chung
Hiện nay thế giới đang hứng chịu tình trạng thiếu hụt sữa một cách trầm
trọng mà không có cách giải quyết. Có một nguyên nhân chính bao trùm lên
tất cả đó là:nhu cầu sử dụng sữa của người dân ngày càng tăng. Uống sữa đã
trở nên nhu cầu thiết yếu của cuộc sống năng động hiện đại. Trung Quốc là
một ví dụ điển hình nhất. Số liệu của IFCN (International Farm Comparision
Network – Tổ chức đối chứng thông tin nông nghiệp quốc tế) cho thấy năm
2000 trung bình mỗi người dân Trung Quốc tiêu thụ 9 lít sữa/năm nhưng đến
năm 2006 con số này là 25 lít. Theo các chuyên gia kinh tế thì nhu cầu về sữa
của thế giới tăng thêm mỗi năm sẽ tương đương với tổng sản lượng sữa mà
New Zealand – một trong những quốc gia có sản lượng lớn nhất thế giới đồng
thời là quốc gia đứng số 1 về lượng sữa xuất khẩu có thể sản xuất trong một
năm. Chính bởi mức nhu cầu cao và tăng liên tục như vậy nên giá sữa không
ngừng “leo thang” ở không ít các quốc gia trên thế giới giá sữa tươi thậm chí
đã lên cao hơn cả giá xăng nhưng nguồn cung vẫn không đáp ứng đủ. Không
một chuyên gia nào có thể dự báo được mức thiếu hụt sữa của thế giới trong
những năm tới. Trong quá khứ, thế giới có thể trông đợi vào Mỹ hay châu Âu
để khỏa lấp sự thếu hụt sữa nhưng giờ đây chính nước Mỹ cũng đang lâm vào
tình trạng thiếu hụt còn châu Âu thì đã đánh mất sức mạnh của mình khi lộ
trình 15 năm cắt giảm các trợ cấp hay trợ giá đối với nông dân và những nhà
sản xuất sữa đã gần xong và chỉ hết năm nay họ sẽ chính thức hoàn thành lộ
trình này. Như vậy, kể từ năm sau nguồn cung sữa từ châu Âu sẽ trở về gần
như mức số 0 vì các nhà sản xuất sẽ không mấy mặn mà với công việc của
mình. Hiện tại, các nhà kinh tế Australia còn lo ngại rằng thậm chí họ sẽ
không còn đủ sản lượng để cung cấp cho thị trường nội địa chứ chưa nói gì
đến xuất khẩu. Hậu quả đã rõ và các Chính phủ của không ít các quốc gia bắt
đầu tiến hành can thiệp. Giữa năm nay, Argentina đã chính thức áp dụng thuế
xuất khẩu đối với mặt hàng sữa, còn ấn Độ – nước sản xuất sữa lớn nhất thế
giới khắt khe hơn khi tuyên bố cấm xuất khẩu mặt hàng sữa bột.
II_ Môi trường tự nhiên
Ngành sữa chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên.
5
Đề án Chi“ ến lược kinh doanh của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk”
Có thể nói, điều kiện tự nhiên và khí nước ta rất thuận lợi cho việc phát
triển đàn gia súc lấy sữa, cũng như trồng cây đậu nành là những nguyên liệu
không thể thiếu của ngành sữa. Việt Nam nằm trong vành đai khí hậu nhiệt
đới gió mùa nên có những đặc điểm chung như: lượng mưa trung bình hàng
năm khoảng 1.500 – 2000 mm, độ ẩm trên 85% Mặt khác, Việt Nam cũng
có những đặc trưng riêng tạo hoá đã ưu ái ban tặng với 2/3 lãnh thổ là những
vùng đất thấp, đồi núi, nhiều cao nguyên với những cánh rừng rậm. Đất nước
bị chia thành miền núi vùng đồng bằng sông Hồng ở phía Bắc, dãy Trường
Sơn, những vùng đất thấp ven biển miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long
ở phía Nam. Mỗi vùng từ Bắc đến Nam lại có những đặc thù riêng. Khu vực
duyên hải miền Trung có rất nhiều đồng cỏ xanh tốt để chăn nuôi bò lấy sữa
và đất đai để trồng cây đậu nành như: Quảng Nam,. Khu vực cao nguyên Mộc
Châu (Sơn La ), cao nguyên Lâm Viên ( Lâm Đồng ), … có khí hậu mát mẻ,
đồng cỏ rộng, rất thích hợp chăn nuôi bò sữa.
Ngoài ra, còn có một số rủi ro do yếu tố tự nhiên mang lại, mang tính bất
khả kháng ít có khả năng xảy ra nhưng nếu xảy ra thì sẽ tác động đến tình
hình kinh doanh của Công ty. Đó là những hiện tượng thiên tai (hạn hán, bão
lụt, động đất ), chiến tranh hay dịch bệnh hiểm nghèo trên quy mô lớn.
III_ Môi trường kinh tế
Trước hết phải kể đến yếu tố tốc độ tăng trưởng kinh tế: Việt Nam đang
trong giai đoạn tăng trưởng phát triển nhanh với tốc độ tăng trưởng hàng năm
đạt 7,5% (1994 – 2004), 8,4% (2005), 8,5% (2006), 8,4% (10/2007). Tốc độ
tăng trưởng kinh tế trong nước có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu tiêu thụ
các sản phẩm dinh dưỡng. Cụ thể, nền kinh tế tăng trưởng làm tăng thu nhập
cá nhân tăng ( năm 2003 là 415 $, năm 2004 là 545$, năm 2005 là 584$, năm
2006 đạt mức 638$), kéo theo nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm dinh dưỡng bổ
sung ngày càng gia tăng do người dân quan tâm hơn đến sức khoẻ của các
thành viên trong gia đình và tăng chi tiêu cho các mặt hàng dinh dưỡng như
sữa. Đây chính là cơ hội cho các doanh nghiệp, nếu như doanh nghiệp nào
nắm bắt cơ hội thì hiệu quả kinh doanh sẽ được nâng lên. Ngược lại, nếu nền
kinh tế tăng trưởng chậm hoặc rơI vào thời kỳ suy thoáI, thu nhập ngườidân
sẽ giảm, lúc đó họ chỉ tập trung tài chính để chi tiêu cho các nhu yếu phẩm
điều này sẽ tác động đến sức tiêu thụ trong nước, kéo theo sự giảm sút doanh
thu và lợi nhuận của Công ty. Do vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu
kỹ yếu tố này để có kế hoạch sản xuất kinh doanh hợp lý, và để đạt hiệu quả
cao nhất.
Yếu tố lạm phát: lạm phát xảy ra đồng tiền mất giá, ảnh hưởng đến cả tiêu
dùng và sản xuất. Với sản xuất, lạm phát làm cho doanh nghiệp phảI bỏ ra
nhiều hơn cho chi phí đầu vào, hệ quả là gía sữa tăng lên, doanh nghiệp yếu
thế hơn trong cạnh tranh, đồng thời, tỉ lệ lạm phát tăng thì người tiêu dùng
thích dùng hàng nhập khẩu từ nước ngoài hơn. Tỷ lệ lạm phát cuối năm nay
dự đoán sẽ cao hơn sẽ cao hơn so với năm ngoái và vào khoảng7,8 %. Tuy
6
Đề án Chi“ ến lược kinh doanh của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk”
nhiên từ đầu năm 2007 đến nay chỉ số giá tiêu dùng ngày một tăng và không
có xu hướng giảm, đặc biệt là các mặt hàng sữa, giá đã tăng từ 5 – 15%. Chỉ
số giá tiêu dùng cao sẽ làm giảm sức mua của người tiêu dùng và ảnh hưởng
đến doanh số bán hàng của công ty.
Yếu tố tỷ giá cũng ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp. Khoảng
50% nguyên vật liệu đầu vào của công ty là nhập khẩu và khoảng 30% doanh
thu của công ty là xuất khẩu. Do vậy, lượng tiền ngoại tệ giao dịch hàng năm
của công ty là khá lớn. Do đó, những biến động có tỷ giá đều ảnh hưởng đến
hoạt động của công ty. Hiện nay, tỷ giá hối đoái đang tăng giảm bớt áp lực về
nguyên vật liệu nhập khẩu cũng như giảm tối thiểu ảnh hưởng của tỷ giá công
ty đang xây dựng và phát triển chiến lược nguồn nguyên liệu trong nước
nhằm giảm tỷ trọng nguyên vật liệu nhập khẩu.
Yếu tố lãi suất: hiện nay, lượng tiền mặt của công ty luôn đáp ứng được
nhu cầu vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trong
những năm tới công ty sử dụng một phần nguồn vốn vay để tài trợ cho các dự
án, do vậy,những biến động về lãi suất sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty.
IV_ Môi trường văn hóa - xã hội
Việt Nam là một nước đông dân với tốc độ tăng dân số trung bình thuộc
hàng các nước đứng đầu châu á. Theo thống kê sơ bộ đến thời điểm cuối năm
2006, dân số nước ta vào khoảng 84155,8 triệu người, mật độ dân số là 254
người/km2. Tốc độ tăng dân số không đều, qua các năm có xu hướng giảm
dần tuy nhiên vẫn ở mức cao (năm 2004: 1,4%, năm 2005: 1,31%, năm 2006:
1,21%). Đây chính là thị trường hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong ngành
thực phẩm nói chung và ngành sữa nói riêng trong đó có Vinamilk. Cơ hội
cho doanh nghiệp mở rộng thị phần cũng như qui mô bán hàng là rất lớn.
Ngoài qui mô dấn số dông, dân cư nước ta còn có đặc điểm là cơ cấu dân
số trẻ. Số người trong độ tuổi lao động chiếm xấp xĩ 60% dân số và hàng năm
có hơn 1,1 triệu người bổ sung cho thị trường lao động. Đây là nguồn cung
dồi dào về nguồn nhân công giá rẻ, việc tuyển dụng lao động của doanh
nghiệp là tương đối thuận lợi nếu như không kể đến điểm yếu của lao động
Việt Nam là tay nghề chưa cao và còn thiếu kinh nghiệm.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong thập kỷ qua mang lại kết quả là tỉ lệ
nghèo theo thống kê đã giảm rõ rệt.Tỉ lệ nghèo, theo tiêu chuẩn quốc tế, đã
giảm từ 58% xuống còn 20% trong giai đoạn 1993-2004. Đời sống nhân dân
được cải thiện, sức khỏe được nâng cao, các mặt hàng thực phẩm dinh dưỡng
đặc biệt là sữa ngày càng được chú ý nhiều hơn trong tiêu dùng.
Song đi đôi với kết quả tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tình trạng bất
bình đẳng, đặc biệt là khoảng cách ngày càng rộng hơn về mức thu nhập giữa
nông thôn và thành thị, giữa đồng bằng và miền núi, cũng như mức chênh
lệch ngày càng lớn xuất phát từ tình trạng ngăn cách về các mặt địa lý, xã hội,
dân tộc và ngôn ngữ. Ba vùng chiếm hơn 2/3 người nghèo ở Việt Nam là:
7
Đề án Chi“ ến lược kinh doanh của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk”
miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Cửu Long và duyên hải Bắc Trung Bộ.
Các dân tộc thiểu số chỉ chiếm 14% dân số Việt Nam và sống chủ yếu ở các
vùng núi xa xôi cách trở nhưng lại có tỉ lệ nghèo quá cao (gần 30% dân nghèo
của cả nước). Ngoài ra, còn có 90% dân nghèo sống ở nông thôn. Những con
số này đồng thời phản ánh bộ phận dân số có đời sống thấp. Với họ sữa còn là
mặt hàng xa xỉ, việc tiêu dùng sữa và các sản phẩm từ sữa dĩ nhiên không
phải là thói quen của họ. Để xóa được tình trạng bất bình đẳng, và để sữa đến
được với những người này thì cần một thời gian dài nữa với sự tác động của
các chính sách của Chính phủ và nỗ lực của toàn xã hội.
Tuy GDP tính theo đầu người năm 2006 chỉ đạt hơn 638 $ một chút nhưng
két quả phát triển con người của Việt Nam lại rất khả quan. Điều đó được thể
hiện ở sự gia tăng liên tục của chỉ số phát triển con người HDI trong thập kỷ
qua và những tiến bộ đạt được trong lĩnh vực giáo dục, y tế và mức sống ở
Việt Nam. Trong tổng só 177 nước được xếp hạng về chỉ số phát triển con
người trên thế giới, Việt Nam từ vị trí 120 (năm 1995) đã tiến lên vị trí 108
(năm 2005). Cụ thể nhất là trình độ nhận thức và hiểu biết chung của xã hội
ngày càng cao. Ngày nay cùng với việc chú trọng nâng cao sức khỏe con
người thì sữa và vai trò của nó đã được nhìn nhận trong việc chăm sóc sức
khỏe và nâng cao chất lượng con người vì mang những giá trị dinh dưỡng
cao, dễ hấp thụ và cần thiết, phù hợp cho mọi lứa tuổi. Do vậy sữa và các sản
phẩm từ sữa đã và đang xuất hiện ngày càng thường xuyên trên bàn ăn của
mỗi gia đình. Tuy nhiên, yêu cầu của người tiêu dùng về sản phẩm cũng ngày
càng khắt khe hơn từ chất lượng dến kiểu dáng mẫu mã bao bì. Đây vừa là
thời cơ vừa là thách thức đối với doanh nghiệp.
Thị trường luôn biến đổi theo sự dẫn động của công nghệ mới, sự thay đổi
lối sống và thị hiếu, sự biến thiên các chuẩn giá trị văn hóa – xã hội Do vậy,
nhu cầu và ý thích của người tiêu dùng sẽ biến đổi theo và đến một thời điểm
nào đó, một bộ phận các giá trị tâm lý mà nhãn hiệu đang cung ứng cũng phải
thích ứng theo. Từ đó phát sinh xu hướng hiệu chỉnh phong cách, theo sự vận
động của thị trường, đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến tâm
lý,sở thích của người tiêu dùng để bắt kịp với thị hiếu chung và riêng các đối
tượng tiêu dùng. Đây là quan tâm thường xuyên của doanh nghiệp để đạt
được hiệu quả trong kinh doanh cũng như cạnh tranh.
Đất nước đang chuyển mình trong giai đoạn công nghiệp hóa, phong cách
sông của người dân cũng vì thế mà thay đổi. Cùng với những chiếc ti vi màn
hình phẳng, việc uống sữa hàng ngày là biểu tượng của cuộc sống mới. Cuộc
sống năng động, tác phong công nghiệp người dân không có nhiều thời gian
cho bữa ăn vì vậy cùng với các thực phẩm ăn nhanh, sữa là lựa chọn thay thế
nhờ tiết kiệm thời gian đông thời đầy đủ chất dinh dưỡng.
Ngoài ra, vấn đề dân tộc tôn giáo cũng cần được xem xét, nhất là khi sản
phẩm sữa của công ty được đưa ra thị trường thế giới. Việc quảng cáo, tiếp thị
sản phẩm ở mỗi quốc gia không giống nhau và phải phù hợp với nền văn hóa,
tôn giáo, dân tộc ở quốc gia đó. Vì vậy doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ thị
8
Đề án Chi“ ến lược kinh doanh của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk”
trường để vạch ra chiến lược có hiệu quả. Ví dụ như ở những nước theo đạo
Hindu người dân không ăn thịt bò và vì thế không uống sữa bò mà thay vào
đó là sữa dê, cừu Hiện nay ngoài Ấn Độ, đạo Hindu còn xuất hiện ở Nêpan,
đảo Bali, Băngladet và Xrilanca.
Như vậy, môi trường văn hóa xã hội cũng là yếu tố không kém phần quan
trọng, nó bao gồm: dân cư, trình độ nhận thức, học vấn chung của xã hội,
phong tục tập quán, lối sống, thị hiếu, thói quen tiêu dùng, những quan tâm
ưu tiên của xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các
hoạt động kinh doanh. Các tác động của yếu tố văn hóa – xã hội thường có
tính dài hạn và tinh tế hơn so với các yếu tố khác nên nhiều lúc khó mà nhận
biết được.
V_ Yếu tố chính trị và pháp luật
Việt Nam có chế độ chính trị ổn định do một Đảng lãnh đạo thống nhất.
Bằng chứng là ngày càng có nhiều nhà đầu tư tìm đến Việt Nam. Việc Việt
Nam trở thành Uỷ viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc đã
góp phần làm tăng uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Các sản phẩm
của Việt Nam cũng nhân đây mà được thị trường nước ngoài để ý đến.
Việc ban hành hoặc thay đổi chính sách, quy định mới… liên quan đến
hoạt động của ngành có thể ảnh hưởng tới công ty. Hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty chịu tác động của một số chính sách như:
- Quyết định số 167 / 2001 / NĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ về
việc một số biện pháp và chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam
thời kỳ 2001 – 2010
- Quyết định số 22 / 2005 / QĐ - BCN về việc phê duyệt Quy hoạch
phát triển ngành Công nghiệp Sữa Việt Nam đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020.
- Chính sách thuế xuất nhập khẩu khi Việt Nam ra nhập WTO và các tổ
chức thương mại khác.
- Chính sách về an toàn thực phẩm đối với thị trường trong nước và
xuất khẩu: Quyết định số 149 / 2007 / QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Vệ sinh an toàn thực phẩm
giai đoạn 2006 – 2010
- Chính sách về quy định về nhãn hiệu hàng hoá: Nghị định số 21 /
2006 / NĐ - CP của Chính phủ về việc kinh doanh và sử dụng các sản phẩm
dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ.
- Các chính sách ưu đãi đầu tư…
VI_ Yếu tố kỹ thuật và công nghệ
Công nghệ cũng là mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp và là một
trong những yếu tố có tính chất quyết định đối với hoạt động của bất kỳ một
9
Đề án Chi“ ến lược kinh doanh của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk”
doanh nghiệp nào. Nó vừa là yếu tố tạo ra, vừa là yếu tố phá hủy vì công nghệ
ra đời tạo ra sản phẩm mới và đồng thời sản phẩm cũ cũng bị loại bỏ.
Một mặt, trình độ khoa học quyết định phần lớn tới chất lượng và giá cả
của sản phẩm. Nếu như trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ mà cao thì sản
phẩm, hàng hóa sản xuất ra sẽ có chất lượng cao hơn, mẫu mã đa dạng, phong
phú hơn. Điều này cũng đồng nghĩa với giá cả sẽ giảm hơn, vì cùng một thời
gian sản xuất ra, cũng chi phí nhân công như nhau mà cho ra sản phẩm, hàng
hóa nhiều hơn thì chi phí trên một đơn vị hàng hoá sẽ thấp hơn nên giá cả sẽ
thấp hơn. Và ngược lại, nếu như trình độ công nghệ lạc hậu thì chất lượng
hàng hóa sản xuất ra sẽ kém hơn và giá cả có thể cao hơn các đối thủ cạnh
tranh có công nghệ hiện đại hơn, điều này ảnh hưởng tới tiêu thụ hàng hóa.
Mặt khác, trình độ công nghệ còn tác động mạnh mẽ đến quá trình thu
thập, xử lý và truyền đạt thông tin. Việc nghiên cứu, triển khai các sản phẩm
mới cũng phụ thuộc nhiều vào yếu tố công nghệ mà công ty đang có. Ngoài
ra, trình độ khoa học công nghệ còn tác động tới vấn đề vừa nâng cao hiệu
quả sản xuất, vừa bảo vệ môi trường sinh thái. Vì thường những máy móc
thiết bị hiện đạị thì sẽ ít ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, hạn chế việc gây
ô nhiễm môi trường, điều này đã gián tiếp tạo uy tín cho công ty.
Riêng với mặt hàng sữa, khác với dầu mỏ, người ta không thể tích trữ sữa
vào trong những chiếc thùng vì nó sẽ chuyển sang chua chỉ trong vòng vài
tiếng, thậm chí khi chuyển sang dạng cô đặc hay dạng bột, sữa vẫn có một
vòng đời rất ngắn. Vì vậy việc xử lý và chế biến sữa yêu cầu rất cao về mặt
kỹ thuật và công nghệ, công nghệ càng tiên tiến, hiện đại thì càng mang lại
hiệu quả cao. Đồng thời đảm bảo những yêu cầu về chất lượng cũng như an
toàn vệ sinh thực phẩm cho sản phẩm.
B. PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG TÁC NGHIỆP
I. Đối thủ cạnh tranh
1. Triển vọng phát triển của ngành
Theo ngiên cứu của Công ty ACNielsen, tốc độ tăng trưởng bình quân
hàng năm của ngành sữa tại Việt Nam là từ 12 – 15%. Do đó, Việt Nam là
một thị trường đầy tiềm năng với nền kinh tế phát triển ổn định ở mức bình
quân hàng năm trên 8%, mức sinh ổn định và mức tiêu thụ sưã trên đầu người
còn thấp so với các nước trong khu vực. Thị trường sữa Việt Nam ước tính có
độ lớn 800 triệu USD trong năm 2007 và sẽ vượt mức 1 tỷ USD vào năm
2009. Người tiêu dùng Việt Nam rất quan tâm và sãn sàng chi tiêu cho các
sẩn phẩm liên quan đến sức khỏe, dinh dưỡng. Đây là yếu tố quan trọng khiến
thị trường sữa Việt nam ngày càng thêm hấp dẫn.
10
Đề án Chi“ ến lược kinh doanh của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk”
2. Vị thế của Công ty trong ngành
Trong những năm qua, mặc dù chịu sự canh tranh của các sản phẩm sữa
trong và ngoài nước, song bằng nhiều nỗ lực của mình, Vinamilk đã duy trì
được vai trò chủ đạo của mình trên thị trường trong nước và cạnh tranh có
hiệu quả với các nhãn hiệu sữa của nước ngoài. Doanh thu nội địa tăng trung
bình hàng năm khoảng 20 – 25% /năm, được người tiêu dùng tín nhiệm và
bình chọn là sản phẩm top ten hàng Việt Nam chất lượng cao 9 năm liền.
Theo kết quả nghiên cứu thị trường của Công ty ACNielsen tháng 4/2007,
Vinamilk là Công ty đứng đầu trong top 5 công ty dẫn đầu trên thị trường sữa
dinh dưỡng tại Việt Nam (bao gồm: Vinamilk , Dutch Lady, Abbott, Mead
Johnson và Nutifood). Trong đó, Vinamilk đứng thứ 4 về sữa dành cho người
lớn sau các hãng sữa nước ngoài là: Abbott, Fonterra, Mead Johnson, thứ 5 về
sữa dành cho trẻ em đang phát triển (growing up) sau Dutch Lady, Abbott,
Mead Johnson, Nestlé.
a. Vị thế của nhóm sản phẩm Vinamilk trên thị trường
• Nhóm Sữa bột – Bột dinh dưỡng
- Sữa bột:
Các sản phẫm bột của Công ty luôn được nghiên cứu và phát triển nhằm
đưa ra thị trường các sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu phát
triển ngày một tăng của người tiêu dùng. Nhờ có sự nghên cứu phát trểin sản
phẩm không ngừng mà doanh thu của nhóm sữa bột có mức tăng trưởng hàng
năm khỏang trên 30%/ năm. Thị trường sữa bột tại thị trường trong nước đang
diễn ra cạnh tranh cao giữa các sản phẩm nhập khẩu và các sản phẩm được
sản xuất trong nước Tuy nhiên, nhóm sản phẩm này vẫn tiếp tục tăng trưởng
do nhu cầu của người dân và trẻ em Việt Nam ngày càng tăng.
- Bột dinh dưỡng:
Ngành hàng bột dinh dưỡng nhìn chung bình ổn hơn vì thị trường chỉ có
sự tham gia của vài nhà sản xuất nổi tiéng như: Nestlé, Nutifood. Ngoài ra thị
trường còn có sự tham gia của bột dinh dưỡng nhập khẩu như Gerber (Đức)
nhưng thị phần không đáng kể. đây là một lợi thế để Vinamilk phát triển
mạnh ở phân khúc này.
• Sữa đặc
Trên thị trường hiện nay chỉ có 2 nhãn hiệu chính là Vinamilk và Dutch
Lady. Các sản phẩm sữa đặc của Vinamilk đã trở thành sản phẩm quen thuộc
trong mọi gia đình như: Sữa đặc ông Thọ, Sữa đặc Ngôi Sao Phương Nam,
nhờ vậy mức tăng trưởng doanh thu của nhóm sữa này khá ổn định, khoảng
15%/năm.
• Nhóm sản phẩm sữa tươi, sữa chua
Thị trường sữa tươi, sữa chua hiện nay khá phong phú và đa dạng, bao gồm
các sản phẩm được sản xuất trong nước và nhập khảu. Sữa tươi đang rở
thànhmột sản phẩm dinh dưỡng không thể thiếu trong mọi gia đình. Do vậy,
11
Đề án Chi“ ến lược kinh doanh của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk”
sự hấp dẫn này đã tạo nên một thị trường cạnh tranh khốc liệt giữa các sản
phẩm trong nước cũng như các sản phẩm nhập khẩu. Các đối thủ cạnh tranh
như: Dutch Lady, F & N, Pepsi, Unipresident, Dutch Mill, Hanoimilk,
ELOVI, Nutifood, Tân Việt Xuân, Lothamilk… Tuy nhiên, do những ưu thế
về tiềmlực tài chính, trình độ công nghệ, khả nưng phát triển sản phẩm mới đa
dạng, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng và hệ thống phân phối nên sản
xuất và doanh thu của nhóm sản phẩm này vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tông
doanh thu của Công ty.
b. Những lợi thế cạnh tranh nổi bật của Vinamilk so với các doanh
nghiệp khác trong ngành
- Thương hiệu lâu năm đã trở nên quen thuộc với người tiêu dùng
- Các sản phẩm đa dạng nhiều chủng loại, sản phẩm đáp ứng được nhu
cầu của nhiều độ tuổi khác nhau
- Quy mô sản xuất lớn với hệ thống các nhà máy sữa trên cả nước
- Công nghệ sản xuất hiện đại, áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn quốc tế.
3. Đối thủ hiện tại
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là rất khốc liệt. Bên cạnh
Vinamilk luôn tồn tại không ít những thương hiệu mạnh cả trong và ngoài
nước. Có thể kể đến một số gương mặt tiêu biểu như: Abbott, Mead Johnson,
X.O, Dutch Lady, F & N, Pepsi, Unipresident, Nestlé, Hanoimilk, ELOVI,
Nutifood, Tân Việt Xuân, Lothamilk…
Nghiên cứu và đánh giá vị thế cạnh tranh, điểm mạnh, điểm yếu của đối
thủ là việc làm hết sức cần thiết để tìm ra đối sách, các chiến lược cạnh tranh
cho phù hợp với tình hình thực tế của Công ty.
Do thời gian có hạn nên bài viết chỉ đề cập về 2 đối thủ trong nước điển
hình của Vinamilk là Nutifood và Hanoimilk. Nói chung các đối thủ trong
nước chưa có sức ép lớn lắm tới hoạt động sản xuất kinh doanh của Vinamilk,
doanh nghiệp dẫn đầu ngành sữa Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên trong thời
gian tới, chắc chắn sức ép này sẽ tăng lên .
a. Công ty thực phẩm dinh dưỡng Đồng Tâm (Nutifood)
- Được thành lập vào 23/09/2000, hiện nay Công ty có 96 nhà phân
phối và 60000 điểm bán lẻ, doanh thu năm 2006 đạt trên 392 tỷ đồng, trong
đó sữa bột (66,81%), sữa nước (16,78%), sữa đặc trị ( 15,48%).
- Vị thế trong ngành: Đứng trong top 5 công ty dẫn đầu trên thị trường
sữa dinh dưỡng tại Việt Nam (Vinamilk, Dutch Lady, Abbott, Mead Johnson
và Nutifood), đứng thứ 2 thị phần sữa bột nguyên kem chỉ sau Dutch Lady,
thứ 2 về sữa đặc trị chỉ sau Abbott, thứ 5 về sữadành cho người lớn sau
Abbott, Fonterra, Mead Johnson và Vinamilk, thứ 6 về sữa danhf cho trẻ em
đang phát triển sau Dutch Lady, Abbott, Mead Johnson, Nestlé và Vinamilk.
đây là nỗ lực rất lớn với một công ty ra đời cách đây 7 năm.
12
Đề án Chi“ ến lược kinh doanh của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk”
- “Liên minh chiến lược toàn diện ” với công ty Kinh Đô, tiết kiệm
đượcchi phí hoạt động (chi phí marketing, thu mua nguyên vật liệu, hệ thống
điều vận ), đa dạng hóa sản phẩm và lĩnh vực hoạt động.
- Mạnh dạn đầu tư vào bộ phận nghiên cứu và phát triển.
- Nguồn nhân lực cao cấp trong và ngoài nước từ các công ty đa quốc
gia đổ về Nutifood.
- Năng lực Marketing còn yếu kém
b. Công ty thực phẩm sữa Hanoimilk
- Thành lập năm 2001 nhưng Hanoimilk đã nhanh chóng phát triển thị
trường của mình, trung bình sản xuất 80 triệu lít sữa/ năm, năm 2006 doanh
số đạt 325 tỷ đồng, hiện Hanoimilk có gần 100 nhà phân phối và 80000 cửa
hàng bán lẻ, giới thiệu sản phẩm trong cả nước và có vị trí khá tốt so với
doanh nghiệp cùng ngành tại Việt Nam
- Sản phẩm chủ yếu của Hanoimilk hiên tại là sữa nước tiệt trùng
(chiếm 87% doanh thu) và sữa chua uống tiệt trùng (chiếm 13% doanh thu).
Một trong những nền tảng chiến lược cạnh tranh của Hanoimilk đó chính là
sự khác biệt trong sản phẩm với
o Thương hiệu riêng cho trẻ em (chữ IZZI và giọt sữa nhộ nghĩnh)
o Sản phẩm dinh dưỡng: với Vitamin và Lysine
o Sản phẩm riêng cho trẻ em: bao bì nhỏ, kiểu wedge, dành riêng
cho trẻ em
- Hiện là một trong ba nhà sản xuất sữa lớn nhất nhắm tới đối tượng
chính là trẻ em (thị phần 30%), là một trong những công ty dẫn đầu về thị
trường sữa tiệt trùng (tổng có khoảng 23 công ty sản xuất sản phẩm này)
- Liên kết ngang với các công ty:
o Liên kết với tập đoàn Hapro để sản phẩm thương hiệu của mình
thâm nhập thị trường qua hệ thống bán lẻ của siêu thị Hapro Mart.
o Hợp tác chiến lược với tập đoàn Maei (Hàn Quốc) nhằm nâng
cao tầm vóc của công ty trong giai đọan mới
- Tuy nhiên Hanoimilk là công ty còn non trẻ, quy mô không lớn (đa
phần chú trọng sản xuất sữa dành cho trẻ em), tài chính chưa mạnh, thị trường
hoàn toàn mới mẻ, nội bộ công ty không tốt (đã có một số thành viên rút vốn),
gặp khó khăn về chi phí vận chuyển vào thị trường miền Nam, khâu
Marketing còn yếu, làm ăn theo thời vụ, lợi nhuận không đều (chỉ thu được
lợi nhuận cao vào quý II, III, còn quý I, IV thường thua lỗ hoặc lợi nhuận
thấp)
c. Đối với các công ty nước ngoài
Những đối thủ nước ngoài của Vinamilk trên thị trường hiện nay, có
thương hiệu nổi tiếng, quen thuộc với người tiêu dùng như: Abbott, Mead
Johnson, X.O, Nestlé và các công ty đa quốc gia khác. Sức ảnh hưởng của
các công ty này là không hề nhỏ trên thị trường Việt Nam và vì vậy sức ép từ
các đối thủ nước ngoài là rất lớn. Cụ thể: Tính từ đầu năm đến nay các mặt
13
Đề án Chi“ ến lược kinh doanh của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk”
hàng sữa đặc biệt là sữa nhập khẩu tăng giá rất nhanh. Tăng mạnh nhất là mặt
hàng sữa bột, sữa dinh dưỡng của Abbott, Mead Johnson, X.O Ví dụ, sản
phẩm sữa hộp đã tăng từ 15 – 20% so với đầu năm. Mặc dù giá sữa tăng cao
nhưng mặt hàng này lại đạt mức tăng trưởng chung 19% - 1 con số không
nhỏ. Trong đó mạnh nhất là sữa cho trẻ từ 1- 6 tuổi: 34%. Giá sữa tăng cao
nhưng sức mua không giảm nhất là đối với hàng ngoại (Abbott, Mead
Johnson). Thậm chí Abbott còn dẫn đầu về doanh thu tại thị trường Việt Nam.
Tại sao vậy?
Tính thành phần ghi trên nhãn thì sữa ngoại và sữa nội không khác nhau
nhiều, nhưng sản phẩm của Abbott, Mead Johnson, Enfa vẫn được người tiêu
dùng ưa chuộng vì có thương hiệu lâu năm và đáng chú ý nhất là khâu
Marketing chuyên nghiệp và bài bản của họ. Đồng thời các hãng sữa nước
ngoài cũng vượt trội hơn các hãng sữa trong nước về công nghệ sản xuất, ưu
tiên cho việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm. Chẳng hạn, có tới 500 nhà
khoa học và chuyên gia nghiên cứu lâm sàng của Abbott ngày ngày làm việc
để có thể tìm ra những vi chất bổ sung mới cho sản phẩm sữa của họ.
Điểm mạnh của các công ty nước ngoài có thể dễ dàng nhận thấy như:
- Các công ty đa quốc gia có lợi thế về quyền lực đàm phán với các nhà
cung ứng nguyên vật liệu và dịch vụ khắp toàn cầu dựa trên sức mạnh của
những đơn đặt hàng với số lượng cực lớn tổng hợp từ rất nhiều thị trường trên
thế giới mà họ có mặt.
- Hơn hẳn chúng ta về kỹ thuật Marketing và bán hàng. Công ty đa
quốc gia có hệ thống và kinh nghiệm hàng ngàn năm trong việc quảng bá
thương hiệu với sự bài bản và hàng ngàn tình huống khác nhau được đúc kết,
có nghĩa với kinh nghiệm được hệ thống hóa và đúc kết những giải pháp tối
ưu, những khó khăn của thị trường này sẽ dễ dàng tìm được lời giải có hiệu
quả đã thành công ở thị trường khác.
Tuy nhiên, điểm yếu của họ cũng là lợi thế của chúng ta đó là chưa am
hiểu thị trường Việt Nam, đồng thời giá thành sản phẩm còn cao nên khách
hàng chủ yếu là ở đô thị (trong khi ở Việt Nam chỉ có 30% dân số sống ở các
đô thị).
4. Đối thủ tiềm ẩn
Đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp mới xuất hiện hoặc sẽ xuất hiện trên
khu vực thị trường mà doanh nghiệp đã và sẽ hoạt động. Sự xuất hiện của các
đối thủ mới này làm thay đổi bức tranh cạnh tranh trong ngành, dù ít hay
nhiều thì nó cũng làm tăng mức độ cạnh tranh của ngành.
Thị trường Việt Nam được đánh giá là có tiềm năng lớn với dân số đông,
trẻ mức sống ngày càng được nâng cao thì nhu cầu về các sản phẩm sữa ngày
càng được tăng lên khoảng 30%. Tại Việt Nam, sữa đang là mặt hàng có sức
tiêu thụ rất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, khoảng 200 triệu lít/năm với mức
tăng trưởng hàng năm gần 25%. Mặt khác, hiện nay, với việc Việt Nam gia
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét