Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty cổ phần xây dựng thương mại và dịch vụ văn hoá


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty cổ phần xây dựng thương mại và dịch vụ văn hoá": http://123doc.vn/document/1051111-hoan-thien-cong-tac-ke-toan-tap-hop-chi-phi-san-xuat-va-tinh-gia-thanh-san-pham-xay-lap-tai-cong-ty-co-phan-xay-dung-thuong-mai-va-dich-vu-van-hoa.htm


3.2. Phân loại chi phí sản xuất.
Do chi phí sản xuất kinh doanh có nhiều loại nên cần thiết phải phân
loại chi phí nhằm tạo thuận lợi cho công việc quản lý hạch toán chi phí.
Phân loại chi phí nhằm là việc sắp xếp các loại chi phí khác nhau vào từng
nhóm theo đặc trưng nhất định. Trong thực tế có rất nhiều cách phân loại
khác nhau, tuy nhiên lựa chọn phương pháp nào do cách quản lý và hạch
toán.Vì vậy các doanh nghiệp cần phải áp dụng phương pháp nào để hạch
toán các chi phí không bị trùng lắp. Sau đây là một số cách phân loại chi phí:
3.2.1. Phân loại theo yếu tố chi phí.
Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí được chia làm 7
yếu tố sau:
- Yếu tố nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật
liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ…
- Yếu tố nhiên liệu, động lực trong quá trình sản xuất kinh doanh
trong kỳ
- Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cấp lương
- Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ
- Yếu tố khấu hao tài sản cố định (TSCĐ
- Yếu tố chi phí và dịch vụ mua ngoài
- Yếu tố chi phí bằng tiền
3.2.2. Phân theo mục đích, công dụng của chi phí
Theo qui định hiện hành gồm 4 khoản mục chi phí sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sử dụng máy thi công
- Chi phí sản xuất chung
3.2.3. Phân loại theo cách thức kết chuyển chi phí.
Theo cách thức kết chuyển, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh được
chia thành 2 loại:
- Chi phí sản phẩm
- Chi phí thời kỳ
3.2.4. Phân theo quan hệ của chi phí với khối lượng công việc, sản phẩm
hoàn thành
Theo cách này chi phí được chia thành biến phí và định phí.
- Biến phí: là những chi phí thay đổi về tổng số, về tỷ lệ so với khối
lượng công việc hoàn thành
- Định phí: là những chi phí không đổi về tổng số so với khối lượng
công việc hoàn thành
3.3. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất.
Xác định đối tượng chi phí sản xuất xây lắp là công việc đầu tiên quan
trọng của kế toán trong quá trình hạch toán giá thành sản phẩm.Tổ chức kế
toán quá trình sản xuất bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau và có quan hệ
mật thiết với nhau. Đó là giai đoạn kế toán chi tiết chi phí sản xuất phát sinh
trong từng công trình, HMCT, hay giai đoạn công việc để thuận tiện cho
việc tính giá thành sản phẩm, hay chi tiết từng công trình theo yêu cầu thực
tế quản lý của Công ty. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là những
phạm vi, giới hạn mà chi phí sản xuất cần được tập hợp phục vụ cho việc
kiểm tra, giám sát, tổng hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm.
3.4. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Cũng như các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, kế toán có thể tập
hợp chi phí sản xuất theo 2 phương pháp:
- Phương pháp tập hợp và phân bổ trực tiếp: Được áp dụng khi chi phí
phát sinh được xác định cụ thể cho đối tượng chịu chi phí (cho từng công
trình, hạng mục công trình)
- Phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp: Được áp dụng khi chi phí
sản xuất liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí.
3.5. Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang
Để phục vụ cho việc tính giá thành sản xuất của từng sản phẩm xây
lắp, định kỳ (tháng, quý), doanh nghiệp phải tiến hành kiểm kê khối lượng
công việc hoàn thành trong kỳ hay đang dở dang.Phương pháp đánh giá sản
phẩm dở dang trong xây lắp phụ thuộc vào phương thức thanh toán khối
lượng xây lắp giữa hai bên nhận thầu và bên giao thầu.
- Nếu quy định thanh toán sản phẩm xây lắp sau khi hoàn thành giá trị
sản phẩm dở dang là tổng chi phí phát sinh công trình đến cuối tháng đó.
- Nếu quy định giá trị hoàn thành sản phẩm xây lắp theo điểm dừng
kỹ thuật hợp lý thì chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp dở dang cuối kỳ được
tính trên cơ sở phân bổ chi phí xây lắp thực tế đã phát sinh cho khối lượng
hay giai đoạn công việc xây lắp đã hoàn thành và chưa hoàn thành dựa theo
tiêu thức giá trị dự toán hay chi phí dự toán. Công thức tính cụ thể như sau:
CPSX thực
tế của
KLXL (giai
đoạn XL)
dở dang
cuối kỳ
=
CP thực tế của KL
(giai đoạn) XLDD
đầu kỳ
+
CP thực tế phát
sinh trong kỳ
x
CP theo
dự toán
của KL
(giai
đoạn)XL
DD cuối
kỳ
CP theo dự toán của
KLXL (giai đoạn)
hoàn thành trong kỳ
+
Cp theo dự toán
của KL(Giai
đoạn) XLDD
cuối kỳ
4. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp
xây lắp
4.1. Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (NVLTT).
4.1.1. Khái niệm
Đối với các DNXL chi phí NVLTT là những chi phí về nguyên, vật
liệu chính, vật liệu phụ, các cấu kiện, các bộ phận kết cấu của công trình, vật
liệu luân chuyển tham gia vào cấu thành thực thể của công trình hoặc giúp
cho việc thực hiện và hoàn thành khối lượng xây lắp như: xi măng, gạch,
cát, đá, sỏi, kèo sắt, cốp pha, giàn giáo,….Chi phí NVLTT không bao gồm
chi phí vật liệu, nhiên liệu sử dụng cho máy thi công và cho việc quản lý của
đội công trình.
4.1.2. Nguyên tắc kế toán tập hợp chi phí NVLTT
Kế toán tập hợp chi phí NVLTT phải tôn trọng các nguyên tắc sau
đây:
- Vật liệu sử dụng cho công trình nào thì phải tính chi phí của nó trực
tiếp cho công trình đó dựa vào số lượng thực tế đã sử dụng và đơn giá thực
tế.
- Cuối kì, khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành, Kế toán phải
kiểm kê để xác định số vật liệu đã xuất kho nhưng chưa sử dụng hết, đồng
thời xác định và đánh giá đúng giá trị phế liệu thu hồi của từng công trình,
hạng mục công trình nếu có.
- Trường hợp vật tư sử dụng cho nhiều công trình, hạng mục công trình thì
kế toán phải lựa chọn tiêu thức thích hợp để phân bổ.
4.1.3. Tài khoản sử dụng
Để phản ánh chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng tài
khoản 621- chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Tài khoản này được mở chi tiết
theo từng công trình xây dựng, lắp đặt (công trình, hạng mục công trình, các
giai đoạn công việc, khối lượng công việc, khối lượng xây lắp có dự toán
riêng). Kết cấu tài khoản này như sau:
Bên Nợ: Giá trị nguyên vật liệu xuất dùng trực tiếp cho xây dựng, lắp
đặt.
Bên Có: - Giá trị nguyên vật liệu xuất dùng không hết nhập lại kho hay
chuyển sang kỳ sau.
- Kết chuyển hoặc phân bổ giá trị nguyên vật liệu thực tế sử
dụng cho hoạt động xây lắp trong kỳ vào bên nợ TK 154- chi phí sản xuất
kinh doanh dở dang và chi tiết cho các đối tượng để tính giá thành công
trình.
Tài khoản 621 cuối kỳ không có số dư.
4.1.4. Phương pháp kế toán một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu
Kế toán tập hợp chi phí NVLTT được khái quát theo sơ đồ sau: Phụ
lục 1 (trang 1)
4.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp.
4.2.1. Khái niệm
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm các khoản thù lao lao động phải
trả cho công nhân trực tiếp xây lắp các công trình, công nhân phục vụ thi
công (kể cả công nhân vận chuyển bốc dỡ vật tư trong phạm vi mặt bằng xây
lắp và công nhân chuẩn bị thi công và thu dọn hiện trường). Chi phí nhân
công trực tiếp không bao gồm các khoản trích KPCĐ, BHXH, BHYT tính
theo tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp xây lắp và tiền ăn ca của
công nhân xây lắp mà chúng được hạch toán vào chi phí sản xuất chung.
4.2.2. Tài khoản sử dụng
Để theo dõi chi phí nhân công trực tiếp Kế toán sử dụng TK 622 “Chi phí
nhân công trực tiếp”: Tài khoản này phản ánh chi phí tiền lương, tiền công
phải trả cho số ngày lao động của công nhân trực tiếp thực hiện xây lắp,
công nhân phục vụ xây lắp kể cả công nhân vận chuyển, bốc dỡ vật liệu
trong phạm vi mặt bằng xây lắp và công nhân chuẩn bị thu dọn hiện trường,
không phân biệt nhân công trong danh sách hay nhân công thuê ngoài.Tài
khoản này được mở chi tiết cho từng CT, HMCT.
Tài khoản này có kết cấu như sau:
Bên Nợ: Chi phí nhân công trực tiếp thực tế phát sinh.
Bên Có: Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào tài khoản tính giá
thành.
Tài khoản 622 cuối kỳ không có số dư.
4.2.3. Phương pháp kế toán một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu
Được khái quát qua sơ đồ sau: (Phụ lục 2 trang 2 phần phụ lục)
4.3. Kế toán tập hợp chi phí sử dụng máy thi công.
4.3.1. Khái niệm
Máy móc thi công là các loại máy phục vụ trực tiếp cho sản xuất xây
lắp như máy trộn bê tông, cần trục, cần cẩu tháp, máy ủi, máy xúc, Chi phí
sử dụng máy thi công là những chi phí có liên quan trực tiếp đến việc sử
dụng xe và máy thi công, bao gồm các loại nguyên, vật liệu xuất dùng cho
máy thi công, tiền lương phải trả cho công nhân điều khiển và phục vụ máy
thi công, khấu hao máy thi công, tiền thuê máy thi công, chi phí dịch vụ mua
ngoài cho sử dụng máy thi công
4.3.2. Tài khoản kế toán sử dụng
Để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng máy thi công, kế toán sử dụng
TK 623 “Chi phí sử dụng máy thi công”: Tài khoản này phản ánh toàn bộ
chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu, nhân công và các khoản chi phí khác
bằng tiền có liên quan đến quá trình sử dụng máy thi công cho hoạt động
xây lắp công trình.
Tài khoản này được mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công
trình và có 6 TK cấp 2 như sau:
- TK 6231: Chi phí nhân công
- TK 6232: Chi phí vật liệu
- TK 6233: Chi phí dụng cụ
- TK 6234: Chi phí khấu hao máy thi công
- TK 6237: Chi phí dịch vụ mua ngoài
- TK 6238: Chi phí bằng tiền khác
4.3.3. Phương pháp kế toán một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu
 Trường hợp doanh nghiệp xây lắp có tổ chức đội máy thi công riêng
biệt, có tổ chức kế toán riêng.
- Khi doanh nghiệp thực hiện theo phương thức cung cấp dịch vụ xe,
máy lẫn nhau giữa các đơn vị: Phụ lục 3a (trang 3 phần phụ lục)
- Khi doanh nghiệp thực hiện phương thức bán dịch vụ xe, máy lẫn
nhau giữa các bộ phận trong nội bộ doanh nghiệp: Được khái quát qua sơ đồ
ở phụ lục 3b (trang 4 phần phụ lục)
 Trường hợp doanh nghiệp xây lắp không tổ chức đội máy thi công
riêng biệt: Được khái quát qua sơ đồ ở phụ lục 4 (trang 5 phần phụ lục)
 Trường hợp doanh nghiệp thuê ngoài máy thi công: Được khái quát
qua sơ đồ ở phụ lục 5 (trang 6 phần phụ lục)
4.4. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung.
4.4.1. Khái niệm
CPSXC bao gồm lương nhân viên quản lý đội xây dựng, tiền ăn giữa
ca của nhân viên quản lý đội xây dựng và công nhân quản lý đội xây lắp,
khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải
trả cho CNTT xây lắp, nhân viên sử dụng máy thi công, nhân viên quản lý
đội, KH TSCĐ dùng chung cho sản xuất của đội, chi phí vật liệu, công cụ
dụng cụ, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí khác bằng tiền có liên
quan cho quá trình phục vụ thi công.
CPSXC phải được tập hợp theo từng địa điểm phát sinh chi phí nếu có
nhiều đội thi công xây lắp thì CPSXC của đội nào được tập hợp để tính giá
thành của đội đó.Trường hợp đội thi công nhiều CT, HMCT thì cần phải tiến
hành phân bổ theo những tiêu thức phù hợp.
4.4.2. Tài khoản sử dụng
Để tập hợp chi phí sản xuất chung kế toán sử dụng TK 627 “chi phí
sản xuất chung”: Tài khoản này phản ánh toàn bộ chi phí liên quan đến việc
tổ chức quản lý, phục vụ thi công của các đội thi công và ở các công
trường.TK này có các TK cấp 2 như sau:
- TK 6271: Chi phí tiền lương cán bộ quản lý đội
- TK 6272: Chi phí vật liệu quản lý
- TK 274: Chi phí khấu hao máy móc
- TK 6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài
- TK 6278: Chi phí quản lý khác bằng tiền
4.4.3. Phương pháp kế toán một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu
Được khái quát qua sơ đồ sau: (Phụ lục 6 – trang 7 phần phụ lục).
5. Kế toán giá thành sản phẩm xây lắp
5.1. Đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp
Do đặc điểm của hoạt động xây lắp và của sản phẩm xây lắp cũng như
tuỳ thuộc vào phương thức thanh toán khối lượng xây lắp theo hợp đồng xây
dựng, đối tượng tính giá thành có thể là công trình, hạng mục công trình, có
thể là các giai đoạn qui ước của hạng mục công trình có dự toán riêng hoàn
thành.Việc xác định đúng đối tượng tính giá thành sẽ là cơ sở để tính đúng,
tính đủ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
5.2. Phân loại giá thành sản phẩm
Trong sản xuất xây lắp, có các loại giá thành sản phẩm sau đây:
- Giá thành dự toán: Giá thành dự toán được xác định dựa trên các
định mức và đơn gía chi phí do nhà nước qui định và nó nhỏ hơn giá trị dự
toán ở khoản thu nhập chịu thuế và thuế GTGT đầu ra. Giá thành dự toán
được xác định như sau:
Giá thành dự
toán CT,
HMCT
=
Giá trị dự
toán CT,
HMCT
-
Thu nhập
chịu thuế tính
trước
-
Thuế
GTGT đầu
ra
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành được xây dựng dựa vào điều kiện cụ
thể về định mức, đơn giá, biện pháp tổ chức thi công của từng doanh nghiệp
Dựa vào 2 loại giá thành trên, người ta có thể xác định được mức hạ
giá thành kế hoạch như sau:
Mức hạ giá thành kế hoạch = Giá thành kế hoạch - Giá thành dự toán

- Giá thực tế: Được xác định dựa trên các số liệu thực tế, các chi phí
sản xuất đã tập hợp để thực hiện khối lượng xây lắp trong kỳ (không bao
gồm giá trị thiết bị đưa vào lắp đặt vì các thiết bị này thường do đơn vị chủ
đầu tư bàn giao cho đơn vị nhận thầu xây lắp).
5.3. Kỳ tính giá thành sản phẩm xây lắp
Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán phải tiến hành công việc
tính giá thành cho các sản phẩm xây lắp.Xác định kỳ tính giá thành thích
hợp sẽ giúp cho việc tổ chức công tác tính giá thành sản phẩm được hợp lý,
khoa học, đảm bảo cung cấp số liệu về giá thành thực tế kịp thời, phát huy
được đầy đủ chức năng giám sát tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản
phẩm của kế toán.Để xác định kỳ tính giá thành thích hợp, kế toán phải căn
cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm và chu kỳ sản xuất sản
phẩm.Căn cứ vào đặc điểm riêng của ngành XDCB mà kỳ tính giá thành có
thể được xác định như sau:
- Đối với các sản phẩm được sản xuất liên tục, cung cấp cho những
đối tượng khác nhau liên tục, chu kỳ sản xuất ngắn như gạch, ngói…thì kỳ
tính giá thành là một tháng.
- Đối với các sản phẩm theo đơn đặt hàng có thời gian sản xuất thi
công dài, công viếc được coi là hoàn thành khi kết thúc mọi công việc trong
đơn đặt hàng thì khi hoàn thành toàn bộ đơn đặt hàng mới tính giá thành.
- Đối với CT, HMCT lớn, thời gian thi công dài thì chỉ khi nào có một
bộ phận hoàn thành có giá trị sử dụng được nghiệm thu, bàn giao, thanh toán
thì mới tính giá thành thực tế bộ phận đó.
- Đối với những công trình xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị có thời
gian thi công nhiều năm mà không tách ra được từng bộ phận công trình nhỏ
đưa vào sử dụng thì khi từng bộ phận xây lắp đạt đến điểm dừng kỹ thuật
hợp lý, theo thiết kế kỹ thuật có ghi trong hợp đồng thi công sẽ được bàn
giao thành toán thì DNXL tính giá thành thực tế cho khối lượng bàn giao.
- Ngoài ra, với công trình lớn, thời gian thi công dài, kết cấu phức
tạp… thì kỳ tính giá thành của doanh nghiệp có thể được xác định là hàng
quý.
5.4. Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp
Việc tính giá thành sản phẩm xây lắp phải thực hiện theo từng công
trình, hạng mục công trình và theo từng khoản mục. Để tính được giá thành
sản phẩm, tuỳ theo từng điều kiện cụ thể kế toán có thể áp dụng các phương
pháp sau:
 Phương pháp tính giá thành giản đơn
Giá thực tế
KLXL hoàn
thanh bàn giao
=
CP thực tế
dở dang
đầu kỳ
+
CP thực tế
phát sinh
trong kỳ
-
CP thực tế
dở dang
cuối kỳ
 Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng: Phương pháp này áp
dụng thích hợp trong trường hợp doanh nghiệp nhận thầu xây lắp theo đơn
đặt hàng.Khi đó, đối tương tập hợp CPSX và đối tượng tính giá thành là
từng đơn đặt hàng.Theo phương pháp này CPSX thực tế phát sinh được tập

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét